Văn Thân Liệp Thủy - Chương 3: Vực Xoáy Mùa Nước Nổi

Mặt nước ngã ba sông sôi sùng sục rồi chìm dần vào một màn sương đùng đục khi bóng chiều tắt hẳn. Con quái vật lặn sâu xuống đáy vực Chợ Bờ, để lại sau…

Nội dung chương

Mặt nước ngã ba sông sôi sùng sục rồi chìm dần vào một màn sương đùng đục khi bóng chiều tắt hẳn. Con quái vật lặn sâu xuống đáy vực Chợ Bờ, để lại sau lưng nó một bãi chiến trường ngổn ngang xác thuyền vỡ nát trôi dạt khắp mặt nước rực màu máu.

Tiếng tù và lạc giọng của toán lính sống sót bên mạn hữu ngạn rú lên từng hồi ngắn ngủi, tuyệt vọng rồi im bặt. Trên bờ cát bến Chợ Bờ, đám đông dân vạn chài nháo nhào trong cơn kinh loạn. Tiếng đàn bà gào khóc gọi tên chồng con, tiếng trẻ nhỏ khóc thét xen lẫn tiếng bước chân dẫm đạp lên lớp sỏi đá ven sông. Từng đoàn người bồng bế nhau, khuân vác những bao tải thóc giống và bồ sọt đựng cá khô tháo chạy ngược lên triền đồi cọ, bỏ lại những nếp nhà sàn trống hoác mở toang cửa gió.

Tôi lội bì bõm dưới làn nước đỏ quạch ngập đến thắt lưng, hai bàn tay rướm máu vì bấu vào mép thuyền độc mộc.

"Đừng chạy! Ai còn sức đàn ông thì ở lại kéo thuyền!"

Tiếng cha tôi gầm lên át cả tiếng sóng vỗ bờ. Thân hình vạm vỡ của người tộc trưởng đứng sừng sững trên mỏm đá đầu bến, ngọn giáo đồng cắm phập xuống lớp cát ẩm, mái tóc búi cao xõa tung sau gáy. Nhưng lời kêu gọi của ông bị nuốt chửng bởi nỗi khiếp đảm vô phương kiềm chế. Cả một vùng hợp lưu từng là nơi buôn bán sầm uất nhất Phong Châu bỗng chốc vỡ tan hoang.

Xác những chiếc chiến thuyền chở trống đồng bị vỡ toác thành từng mảng lớn, trôi lờ lững rồi dạt vào bờ, chẹn đứng cả cửa lạch. Những thanh dầm bằng gỗ sến gãy đôi, dây mây bện đứt tung quấn chặt lấy các cọc tiêu ven bờ tạo thành từng búi chướng ngại vật khổng lồ. Lương thực trên các thuyền buôn từ mạn ngược trôi dạt bồng bềnh, những gùi măng khô, gạo nếp nương và thảo quả trương phềnh, bốc lên mùi chua nồng lẫn trong mùi bùn non sực mũi.

"K'Nham! Đăm! Gom dây kéo mau!" Cha tôi chỉ mũi giáo về phía khúc sông cạn cách bến vài chục sải tay. "Xác lính hộ vệ trôi vào bãi đá kia rồi, không vớt nhanh thì đêm nay dòng nước ngược kéo tuột hết xuống miệng vực!"

Tôi nuốt ngụm nước bọt chát đắng, giật lấy cuộn dây mây ngâm dầu tràm bên hông thuyền, ngoái nhìn Đăm và Vực. Hai gã bạn lặn thân thiết của tôi mặt cắt không còn hạt máu, cơ bắp trên vai run rẩy dưới lớp mực xăm hình thủy quái.

"Nó... nó còn dưới đó không, K'Nham?" Đăm lắp bắp, hai hàm răng va vào nhau lập cập.

"Nó lặn sâu rồi. Nhưng nếu đứng chôn chân ở đây, sóng sẽ đẩy toàn bộ xác chết và mảnh thuyền vỡ nghẽn kín luồng lạch. Đến sáng mai cả đoàn thuyền buôn Phong Châu đừng hòng có lối đi." Tôi quát lên, giọng khản đặc vì hơi lạnh của sông nước bốc lên sau trận cuồng phong. "Nhảy xuống!"

Nói đoạn, tôi lao mình xuống làn nước đục ngầu.

Nước sông Hồng mùa lũ vốn nặng trĩu phù sa, nay lại quánh lại bởi máu tươi và dầu tràm từ những bình vỡ trên thuyền chiến triều đình. Tôi mở trừng mắt dưới đáy nước. Cảm giác nhức buốt quen thuộc ùa tới, nhưng tầm nhìn chỉ giới hạn trong gang tấc. Tầng nước giữa đang xoay chuyển hỗn loạn. Tôi sải cánh tay bơi về phía một khối đen ngòm đang mắc kẹt giữa hai rạn đá ngầm.

Một người lính cấm vệ quân nằm sấp, chiếc áo giáp bằng đồng thau nặng trịch kéo cả thân mình anh ta ghim chặt vào khe đá dưới dòng chảy xiết. Tôi lặn áp sát, hai tay luồn qua nách nạn nhân, dùng hết sức bình sinh giật mạnh. Lồng ngực tôi căng tức, vết sẹo văn thân hình rồng trên lưng căng cứng theo từng nhịp co bóp của cơ bắp. Đăm bơi tới bên cạnh, dùng con dao đồng chặt phăng sợi dây da đang quấn chặt cổ chân người lính vào một thân cọc nhọn.

Hai đứa tôi cùng đạp nước trồi lên.

Phù!

Chúng tôi hớp lấy một hơi dài đầy bụi ẩm và khói lửa. Tôi cùng Đăm túm lấy mép thuyền nan, đẩy thi thể người lính lên sàn gỗ. Đó là một gã trai trẻ tuổi, trán vỡ toác vì va vào thành thuyền, hai mắt trợn trừng đờ đẫn nhìn lên vòm trời nhá nhem tối. Bàn tay anh ta vẫn còn nắm chặt một mẩu cán chèo gãy nát.

Không có thời gian để chần chừ. Tôi lại hụp xuống.

Hết lần này đến lần khác, tôi cùng nhóm thợ lặn ngụp lặn giữa tầng nước lạnh ngắt, kéo từng xác đồng bào bê bết bùn đỏ đưa lên bờ cát. Mỗi một thi thể kéo lên lại làm tăng thêm tiếng khóc than ai oán của thân nhân từ trên triền đồi vọng xuống. Có những người lính bị giáp đồng dìm chết ngạt dưới đáy sông, có những thương nhân xuôi ngược buôn bán bị sóng đánh gãy nát xương sườn dạt vào bãi sậy.

Mặt nước ngã ba sông Bạch Hạc vốn là huyết mạch nuôi sống hàng vạn con người đất Phong Châu. Từ đây, thuyền bè chở quặng đồng, đá quý từ mạn Lô Gâm xuôi về, thuyền chở lúa gạo, muối mặn từ miền duyên hải ngược lên, ngày đêm tấp nập tiếng gõ mái chèo và điệu hò khoan vạn chài. Thế nhưng giờ phút này, toàn bộ huyết mạch ấy đã hoàn toàn đứt đoạn.

Xác thuyền vỡ, cột buồm gãy gục và hàng trăm tấn hàng hóa chìm nổi ngổn ngang đã biến bến Chợ Bờ thành một bãi tha ma trôi nổi. Phía xa xa ngoài ngã ba sông, dòng chảy từ sông Thao đổ về đụng phải vách nước xoáy dựng đứng của vực sâu, phát ra những âm thanh rền rĩ trầm đục giống hệt tiếng thở dài của đất trời trước cơn đại họa. Không một con thuyền nào dám bén mảng qua khúc sông này nữa. Cả vương quốc Văn Lang ở phía thượng lưu đã bị cắt đứt hoàn toàn với vùng đồng bằng châu thổ hạ nguồn.

Tôi trèo lên một dải cồn cát nổi giữa dòng, hai đầu gối run rẩy khuỵu xuống.

Bàn tay tôi run lên từng chặp, buốt buốt rát rát. Chiếc vòng đồng cổ do Hùng Vương đời thứ 17 ban tặng thắt chặt trên cổ tay tôi bỗng nhiên rung lên khe khẽ. Một luồng hàn khí lạnh buốt từ chiếc vòng kim loại cổ xưa truyền thẳng qua lớp da thịt, chạy dọc theo sống lưng, khiến hình xăm rồng mực thiêng trên ngực tôi giật giật nhức nhối. Chiếc vòng này từng theo cha tôi vào sinh ra tử, rồi được trao lại cho tôi ngày tôi chạm mốc tuổi hai mươi, chưa bao giờ nó phát ra thứ nhiệt độ buốt giá đến tận tủy xương như thế này.

Vực Chợ Bờ không chỉ đơn thuần là một vùng nước dữ. Nó đang che giấu thứ gì đó kinh khủng hơn nhiều so với một con thủy quái thông thường.

"K'Nham! Qua đây mau! Nhìn cái này đi!"

Tiếng hét thất thanh của Đăm xé toạc màn sương đêm đang buông dày đặc trên mặt nước. Gã đang đứng cạnh một chiếc bè vỡ dạt vào bờ cạn phía hạ lưu bến Chợ Bờ.

Tôi vùng dậy, gạt phăng lớp bùn bám đầy bắp chân, lao nhanh về phía Đăm. Cha tôi và vài người lính cận vệ còn sót lại của Lạc hầu cũng vội vã cầm đuốc chạy tới. Ánh lửa từ những bó đuốc tẩm nhựa thông bùng lên bập bùng, soi rọi vào một góc xác thuyền sến úp sấp trên bãi đá dăm.

Dòng nước ngã ba sông quanh bãi cạn lúc này bỗng chuyển sang một mùi hôi tanh nồng tột cùng. Mùi tanh tưởi ấy khác hẳn mùi bùn rêu hay mùi tanh của máu người. Nó nồng nặc, ngai ngái giống như mùi thịt thối rữa lâu năm trộn lẫn với tro than ẩm ướt, xộc thẳng vào cuống họng khiến tôi phải nén cơn buồn nôn chực trào lên miệng.

Dưới ánh đuốc đỏ rực, Đăm lật ngửa một nửa thân hình người trôi dạt bị vướng vào chẽ rễ cây trôi sông.

Cả đám người đồng loạt lùi lại một bước, vài tên lính bị thương ngã ngồi bệt xuống đất, mặt mày xám ngoét.

Thi thể trước mắt chúng tôi là một võ sĩ hộ vệ lực lưỡng, nhưng nửa thân dưới từ thắt lưng trở xuống đã biến mất hoàn toàn. Vết đứt gãy không phải do gỗ đè dập nát, cũng không phải do va vào đá ngầm sắc nhọn. Đó là một vết cắn khổng lồ hình vòng cung, ngoạm ngọt xớt qua cả xương chậu và lớp thắt lưng da bò rừng dày dặn.

Các thớ thịt ở rìa vết cắn không hề tưa rách, phẳng lì một cách rùng rợn như thể bị một lưỡi rìu thần linh chém ngang qua.

Kinh hoàng hơn cả, rìa mép vết thương thịt người không hề chảy máu màu đỏ tươi. Một lớp dịch nhầy nhớt màu lam lóa phủ kín toàn bộ phần thịt bị cắt đứt. Dưới ánh lửa bập bùng, thứ chất nhờn màu xanh lam ấy phát ra những đốm sáng lân tinh nhờ nhợt, sủi lên từng bọt khí nhỏ li ti và tỏa ra làn khói mỏng tanh tưởi đến rợn người. Lớp thịt xung quanh chỗ vết cắn đã biến thành màu xám ngoét, khô quắt lại và co rút như bị ngâm trong vạc độc dược.

"Chất độc..." Cha tôi quỳ xuống, hạ ngọn đuốc lại sát mép thi thể nhưng tuyệt đối không dám chạm tay vào. Giọng ông trầm xuống đầy căm giận. "Không đơn thuần là hàm răng của loài bò sát nuốt chửng con mồi. Răng nanh của nó có mang độc dịch ngàn năm dưới đáy huyệt tối."

Một người lính cận vệ còn sống sót, trên trán quấn dải vải thấm máu loang lổ, nhìn chằm chằm vào vệt lân tinh lam lóa rồi ôm đầu gục xuống:

"Lúc thuyền rồng chở trống đồng bị lật... tôi thấy một dải mào đỏ như lửa lướt qua dưới gầm thuyền. Nước sông sôi lên, chỉ cần chạm phải lớp dịch nhờn từ da nó rỉ ra là da thịt bỏng rát như nhúng vào chảo than. Không ai sống nổi nếu rơi xuống gần miệng nó..."

Tôi ngồi thụp xuống bên bờ cát, chăm chú nhìn vệt sáng xanh lam kỳ quái đang dần ăn mòn phần gỗ sến của chiếc thuyền vỡ bên cạnh. Nơi nào chất nhờn rỉ qua, thớ gỗ cứng như sắt cũng mục ruỗng ra thành từng mảng mùn đen. Độc tính ghê gớm đến mức này, thảo nào khi chiến thuyền gãy đổ, hàng chục tay bơi lặn thiện chiến nhất của triều đình rơi xuống sông đều không một ai có thể bơi sống sót vào bờ.

Dòng sông Bạch Hạc từ bao đời nay là nguồn sống, là đường huyết mạch của đất Phong Châu, giờ đây đã hoàn toàn biến thành một tử địa vô phương cứu vãn. Trống đồng thiêng liêng chìm sâu dưới đáy bùn lạnh, binh lính tử trận trôi dạt không còn nguyên vẹn, thuyền bè kinh thương tê liệt chôn chân ở hai đầu thượng lưu và hạ nguồn. Nếu con thú dữ mang nọc độc này tiếp tục ngự trị tại miệng vực Chợ Bờ, chỉ trong vòng nửa tuần trăng nữa, kinh thành Phong Châu sẽ cạn kiệt lương thảo, quặng đồng ngưng trệ, cả giang sơn sẽ rơi vào cảnh lầm than đại loạn.

Tiếng bước chân gấp gáp giẫm lên đá sỏi lạo xạo kéo tôi thoát khỏi dòng suy nghĩ u tối.

Một toán lính hộ vệ mình đầy thương tích dìu một người đàn ông trung niên tiến lại gần bờ cát. Người này khoác chiếc áo da hươu thêu chỉ màu sặc sỡ nhưng đã ướt sũng và tả tơi, bên hông vẫn đeo chiếc đoản kiếm bằng đồng thau nạm ngọc - biểu trưng của các bậc Lạc hầu danh giá nơi triều đình Hùng Vương. Ông ta chính là một trong những vị Lạc hầu phụ trách việc hộ tống đoàn thuyền trống đồng vừa may mắn thoát chết sau thảm họa.

Gương mặt vị Lạc hầu tái mét dưới ánh đuốc, đôi môi run rẩy nhìn chằm chằm vào vết cắn sắc lẹm cùng thứ độc dịch màu lam lóa trên xác người lính xấu số. Bàn tay ông ta nắm chặt chuôi đoản kiếm đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

"Dùng lao đồng và tên lửa của quân đội Phong Châu... hoàn toàn vô dụng." Vị Lạc hầu lẩm bẩm, giọng nói run rẩy vì kinh hoàng tột độ. "Thứ này không phải mãng xà thông thường của chốn rừng thiêng nước độc. Nó là tai họa giáng xuống ngai vàng."

Cha tôi đứng thẳng dậy, vung ngọn giáo đồng gạt tàn đuốc rơi xuống nước, nghiêm nghị nhìn thẳng vào vị quan triều đình:

"Các ngài đưa thuyền rồng nghìn cân và gõ trống đồng ầm ĩ trên mặt nước vực Chợ Bờ vào đúng mùa nước xoáy, làm kinh động đến giấc ngủ trăm năm của nó dưới huyệt sâu. Giờ đây khúc sông này đã đứt đoạn huyết mạch. Vạn chài chúng tôi sức mọn, chỉ có thể vớt xác đồng bào và neo giữ phần thuyền vỡ khỏi trôi bạt. Việc dẹp yên con quái vật dưới đáy sâu, dân bến sông này bất lực."

Vị Lạc hầu ngẩng đầu lên, ánh mắt hoảng loạn nhìn quanh khúc sông ngã ba đang bị bao phủ bởi lớp sương mù đục ngầu tanh tưởi. Ông ta nhận ra một sự thật cay đắng: toàn bộ lực lượng tinh nhuệ của đội thuyền chở trống đồng đã bị xóa sổ, và chỉ bằng sức mạnh của đám lính còn sót lại cùng người dân vạn chài Chợ Bờ, việc khai thông dòng sông là điều hoàn toàn bất khả thi.

"Cắt lấy một mảnh áo dính chất độc lam lóa kia! Thu gom ngay mũi tên đồng bị gãy vụn vớt được từ lớp vảy của nó!" Vị Lạc hầu quay sang ra lệnh cho toán lính cận vệ bằng giọng the thé, gấp gáp như sợ hãi từng nhịp thở của dòng nước bên cạnh. "Chuẩn bị ngựa trạm ngay trên triền đồi! Trong đêm nay, ta phải mang những thứ này quay về cung điện Phong Châu bái kiến Quốc tổ."

Toán lính vội vã dùng kìm đồng kẹp chặt mảnh vải tẩm độc chất lân tinh nhét vào ống tre bịt kín, rồi dìu vị Lạc hầu bước nhanh lên con đường mòn dẫn ngược về kinh đô. Tiếng vó ngựa dồn dập chẳng mấy chốc đã vang lên trên đồi cọ, xa dần rồi mất hút giữa màn đêm mịt mùng.

Tôi đứng lặng bên mép sóng, để mặc dòng nước đỏ quạnh lạnh buốt liếm vào chân. Ngoài xa kia, rốn nước xoáy khổng lồ của vực Chợ Bờ vẫn quay cuồng điên loạn trong bóng tối, phát ra những tiếng gầm gừ trầm uất như tiếng sấm dội từ lòng đất sâu.

Chương khác

Xem thêm