Văn Thân Liệp Thủy - Chương 16: Trống Đồng Hồi Sinh Ngã Ba Sông
Ánh sáng chói lòa của mặt trời cõi dương gian dội thẳng vào mí mắt cay xè khi đầu tôi nhô khỏi mặt nước ngã ba sông Bạch Hạc. Tôi hớp lấy một ngụm khí…
Nội dung chương
Ánh sáng chói lòa của mặt trời cõi dương gian dội thẳng vào mí mắt cay xè khi đầu tôi nhô khỏi mặt nước ngã ba sông Bạch Hạc.
Tôi hớp lấy một ngụm khí trời đầu tiên, buốt rát đến tận cuống họng. Phổi tôi co thắt kịch liệt, tống ra búng nước phù sa lẫn máu tươi tanh nồng trước khi hút luồng gió lộng tràn đầy hương tràm hương đất vào ngực. Tiếng gió rít bên tai thay thế cho tiếng gầm u uất dưới đáy sâu. Ngực tôi phập phồng run rẩy, từng thớ cơ bắp rã rời tựa hồ vừa bị bánh xe đá nghiền qua, nhưng quả tim trong lồng ngực vẫn đập từng hồi chắc nịch.
Bên dưới thân tôi, cái xác khổng lồ của Giao Long trôi lững lờ trên mặt sóng.
Cột nước xoáy nuốt thuyền bao năm qua ở vực Chợ Bờ đã tan biến hoàn toàn. Vùng nước dữ dằn từng vặn xoắn những chiến thuyền bọc đồng thành từng mảnh vụn giờ đây phẳng lặng, trải dài một màu đỏ quạnh phù sa dưới ánh nắng xế chiều. Con quái vật ngàn năm tuổi nằm ngửa bụng trên mặt sông, lớp da bụng trắng bợt loang lổ những vết rách rỉ ra dòng huyết đen kịt. Chiếc mào gà đỏ thẫm từng kiêu hãnh xé toạc làn sóng nay đứt lìa thành hai mảnh tả tơi, rũ rượi áp vào vách đá ven bãi bồi.
Cán ngọn đại lao mặt trời bằng đồng đỏ đã gãy làm đôi trong cú quẫy đuôi tuyệt vọng cuối cùng của con thú, phần mũi lao vẫn cắm ngập sâu vào yết hầu nó, khóa chặt sinh mệnh chúa tể lòng sông.
Tôi đứng thẳng trên gáy con thú bại trận, hai chân run rẩy bám chặt vào từng hốc vảy sừng ráp cộm. Bàn tay phải tôi nắm chặt lấy nửa cán lao gãy nhọn hoắt, giơ cao lên nền trời Phong Châu cao vút. Máu thú trên cánh tay tôi nhỏ từng giọt đặc quánh xuống dòng nước đỏ.
Chiếc vòng đồng cổ do Hùng Vương đời thứ 17 ban tặng nơi cổ tay tôi đã tắt đi ánh hào quang rực rỡ, trả lại màu đồng hun trầm mặc của đất trời Văn Lang. Những đường mực thiêng của hình xăm rồng cổ đại trên ngực và lưng tôi sau khi uống no máu thú thì chìm sâu vào da thịt, thẫm đen lại như được khắc bằng đá mun vĩnh cửu.
Một hồi tù và bằng vỏ ốc biển rúc lên từ mỏm đá phía tây bến Chợ Bờ.
Tiếng tù và xé toạc bầu không khí câm lặng của dòng sông. Kế đó là tiếng trống đồng dồn dập vang lên từ chiếc thuyền chỉ huy còn sót lại của quan Lạc hầu ngoài bờ cát. Hàng trăm con mắt từ những chiếc thuyền chiến gãy cột buồm, từ những mảng bè cứu nạn dạt vào bờ lau, trừng trừng nhìn về phía khối thịt đen trũi đang nổi bập bềnh giữa dòng nước êm.
"Giao Long đền mạng rồi!"
Tiếng thét đầu tiên cất lên từ miệng một người lính cấm vệ tay còn ôm vết thương rách toạc bên sườn.
Ngay sau đó, âm thanh vỡ òa thành một cơn chấn động rợp trời dậy đất. Dọc hai bờ bến Chợ Bờ, dân làng người Lạc túa ra từ những rặng tre, trèo lên những gờ đá hoa cương nhô ra mép nước. Tiếng gõ mái chèo vào mạn thuyền, tiếng hò reo khản đặc của hàng ngàn con người hòa cùng tiếng gió cuốn phù sa ngút ngàn. Những người mẹ bồng con đứng trên bờ đất đỏ rơi nước mắt, những người thợ chài từng mất cha mất anh trong họng nước Chợ Bờ quỳ sụp xuống bãi cát, vừa vái lạy đất trời vừa đập tay xuống bùn non gào khóc.
Từ mép vực đá ngầm phía sau, ba chiếc thuyền độc mộc xé nước lao nhanh về phía tôi.
Trên mũi thuyền đi đầu, cha tôi - vị tộc trưởng già nua của bến Chợ Bờ - đứng sừng sững với mái tóc hoa râm bay phần phật trong gió sông. Chiếc áo vỏ cây sui trên vai ông ướt đẫm nước mắt và máu của những người lính ông vừa kéo từ cõi chết trở về. Đôi mắt già nua từng trải qua bao mùa nước nổi trừng to, nhìn chằm chằm vào đứa con trai duy nhất đang đứng trên đầu con thủy quái.
"K'Nham!" Cha tôi thét lớn, thanh âm nghẹn lại nơi cuống họng.
Chiếc thuyền độc mộc ghé sát vào thân xác Giao Long. Bốn chàng trai khỏe mạnh nhất của bộ tộc lập tức lao mình xuống nước, đỡ lấy thân thể Đăm đang trôi lơ lửng bên một gờ đá gần đó. Đăm vẫn còn thở, lồng ngực gã phập phồng yếu ớt từng nhịp ngắt quãng sau khi được dòng xoáy tan rã đẩy lên khỏi hang ngầm. Gã đã sống sót qua cơn ác mộng dưới đáy vực.
Nhưng hai người dũng sĩ họ Đinh đã vĩnh viễn nằm lại nơi đáy cát lạnh lẽo. Dòng phù sa đỏ rực đã ôm trọn lấy thân xác họ, gửi nắm xương tàn vào lòng đất mẹ ngã ba sông.
Tôi bước chân xuống sàn thuyền độc mộc của cha. Đôi chân tôi mềm nhũn, ngã quỵ vào lòng ông cụ. Bàn tay thô ráp đầy vết chai của cha ôm chặt lấy bả vai tôi, nơi hình xăm đầu rồng vẫn còn bốc ra hơi ấm nhè nhẹ. Ông không nói một lời nào, chỉ ghì chặt trán mình vào vầng trán bê bết bùn đất của tôi, hai bờ vai run lên bần bật. Nước mắt của người tộc trưởng già rơi lã chã lên những vệt máu khô trên ngực tôi.
"Con đã làm được rồi, Nham," cha tôi thì thầm, giọng khàn đặc. "Huyết mạch sông Hồng không tắc. Dân làng Phong Châu được sống rồi."
Từ phía xa, chiếc thuyền lớn chở quan Lạc hầu từ từ tiến lại gần.
Lạc hầu đứng trên sàn gỗ bọc đồng, tay nắm chặt lệnh tiễn bằng ngọc thạch. Khuôn mặt nghiêm nghị của vị đại thần vương triều Hùng Vương ánh lên vẻ kính cẩn khác thường. Ông nhìn xác con quái vật dài hàng chục trượng đang bị các thuyền kéo dây buộc chặt, rồi nhìn sang hình rồng mực thiêng trên ngực tôi. Vị Lạc hầu cúi đầu, đặt một bàn tay lên tim theo nghi lễ cao quý nhất của triều đình Phong Châu dành cho những bậc anh hùng liệp thủy.
"Trống đồng Tiên vương ở đâu?" Quan Lạc hầu cất giọng hỏi, thanh âm sang sảng vang vọng trên mặt nước.
Tôi gạt bớt lớp bùn non bám trên khóe mắt, chỉ tay thẳng xuống đáy vực sâu bên dưới thân xác con thú:
"Nó nằm ngay dưới chân gờ đá vôi, nơi dòng nước xoáy vừa tan vỡ. Khối đồng thiêng đang đợi bàn tay người Lạc đưa về với ánh mặt trời."
Mệnh lệnh lập tức được truyền đi bằng ba hồi trống lệnh đanh thép.
Hơn mười chiếc thuyền đinh lớn nhất của thủy binh triều đình lập tức xếp thành hình cánh cung quanh miệng vực Chợ Bờ. Những cuộn chão mây to bằng bắp đùi người lớn, bọc mỡ trăn chống thấm, được thả xuống dòng nước đục ngầu. Tốp thợ lặn dự bị sung sức nhất của bến sông lao mình xuống nước theo những đường dây tiêu.
Không còn chiếc mào đỏ rẽ nước gieo rắc kinh hoàng, không còn luồng sóng ngầm xoắn gãy ván thuyền, lòng vực Chợ Bờ giờ đây hiền hòa như một vịnh nước lặng giữa mùa thu.
Chỉ mất nửa tuần hương, đầu dây mây dưới đáy sâu giật mạnh ba nhịp báo hiệu mối buộc đã hoàn tất.
Hàng trăm tráng đinh người Lạc trên các thuyền chiến đồng loạt ngả người về phía sau, cất vang khúc ca kéo thuyền trầm hùng của cư dân sông nước Văn Lang. Từng đoạn dây mây căng tròn, rỉ ra những giọt nước đùng đục, ken két ma sát trên những trục quay bằng gỗ nghiến.
"Dô hò... báu vật nước Nam... dậy đi thôi!"
"Dô hò... rẽ sóng phù sa... về đất mẹ!"
Mặt nước sủi bọt cuồn cuộn. Khối kim khí khổng lồ ngàn năm chìm trong bóng tối từ từ rẽ lớp bùn đáy trồi lên. Khi vành đai đồng đầu tiên nhô khỏi mặt nước đỏ, ánh chiều tà chiếu rọi vào làm bừng lên một sắc vàng xanh rực rỡ, uy nghi đến nghẹt thở.
Đó là chiếc trống đồng ngàn năm báu vật quốc gia do vua Hùng ban cấp, biểu tượng cho quyền uy và sự thống nhất của muôn vạn bộ tộc dọc lưu vực sông Hồng.
Các chiến thuyền hợp lực áp sát, dùng đòn bẩy gỗ và lưới chão khiêng khối trống đồng nặng hàng chục vạn cân đặt vững chãi lên bãi bồi ven sông bến Chợ Bờ.
Hàng ngàn dân làng ùa tới quanh bờ cát. Phụ nữ mang những chum nước mưa thơm ngát nấu từ lá bưởi lá sả đổ lên mặt trống. Những người lính cấm vệ dùng dải lụa mềm cẩn thận lau đi lớp bùn non và rêu xanh đã bám chặt suốt những ngày tháng quái vật chiếm cứ dòng sông.
Lớp bùn trôi đi, để lộ ra những đường nét chạm khắc tinh xảo đến từng ly của các nghệ nhân đúc đồng thời xưa.
Chính giữa mặt trống là hình ngôi sao mười bốn cánh tượng trưng cho mặt trời chiếu sáng muôn loài. Bao quanh mặt trời là những vòng tròn đồng tâm khắc họa đàn chim lạc sải cánh bay về phương nam, những hàng chiến binh cầm giáo mác nhảy múa quanh nhà sàn mái cong, và những chiếc thuyền rồng lướt sóng chở đầy tráng sĩ giương cung tên.
Cha tôi cùng quan Lạc hầu bước tới sát bên chiếc trống. Tôi cũng vịn vai một người lính bước đến gần, bàn tay run rẩy chạm vào lớp kim khí mát lạnh linh thiêng.
Đột nhiên, cha tôi dừng phắt tay lại trước một mảng chạm khắc nằm ở vành ngoài cùng của mặt trống, ngay phía dưới chân một con chim lạc khổng lồ.
Đôi mắt ông cụ mở to sững sờ. Bàn tay thô ráp của ông miết mạnh lên từng rãnh đồng cổ kính, cạo sạch lớp đất son cuối cùng còn sót lại.
"K'Nham... nhìn đi con..." Giọng cha tôi run rẩy lạ thường.
Quan Lạc hầu cũng ghé sát mắt nhìn xuống, hơi thở của vị đại thần bỗng nghẽn lại.
Trên mặt đồng ngàn năm tuổi, một bức họa tinh vi hiện rõ mồn một trước mắt chúng tôi.
Khắc họa trên đó là hình ảnh một chàng trai thân trần, trên ngực và lưng mang trọn vẹn từng đường nét của một con rồng cổ đại uốn lượn dữ dội. Chàng trai ấy một tay nắm chặt ngọn lao ba ngạnh có chạm hình mặt trời, tay kia đeo một chiếc vòng kim khí tròn trịa, đang giáng mũi lao xuyên thẳng vào cuống mào của một con thủy quái thân rắn khổng lồ giữa làn sóng cuộn.
Từng đường mực xăm, từng vệt vảy rồng trên ngực tôi, cho đến vết sẹo dài bên bả vai trái do móng vuốt Giao Long cào xước lúc nãy, đều trùng khớp chuẩn xác với từng nét khắc chìm trên mặt trống đồng cổ.
Tôi đứng chết lặng giữa bãi cát ngã ba sông.
Bảy năm trước, vào cái ngày tôi vừa tròn bảy tuổi, cha tôi đã dẫn tôi lên ngôi đền cổ trên đỉnh núi Hùng trong một đêm giông bão ngút trời. Trước bàn thờ Tiên tổ, ông đã dùng chiếc dùi đồng nung đỏ chấm vào mực thiêng chế từ tro xương rồng và nhựa cây trẩu ngàn năm để khắc lên da thịt tôi hình xăm rồng cổ đại này. Khi ấy, ông chỉ ôm lấy tấm lưng đẫm máu của đứa con thơ dại mà khóc. Nói rằng đây là dấu ấn mà thần linh sông nước đòi hỏi - một lời tiên tri từ đời các Vua Hùng đời trước. Truyền lại rằng đứa con bến Chợ Bờ sẽ phải đối mặt với ngày dòng sông nổi giận.
Tôi từng ngỡ đó chỉ là câu chuyện cổ tích cha kể để an ủi nỗi đau buốt thịt da của một đứa trẻ lên bảy.
Nhưng ngày hôm nay, lời tiên tri ngàn năm đã hiển hiện bằng xương bằng thịt trên bến Bạch Hạc. Người thợ khắc chiếc trống đồng này từ hàng trăm năm trước dường như đã nhìn thấy trận chiến sinh tử nơi đáy vực Chợ Bờ vào đúng ngày hôm nay, nhìn thấy giọt máu của tôi hòa cùng máu thú để cứu lấy sự bình yên cho bờ cõi Văn Lang.
Quan Lạc hầu quỳ một chân xuống bãi cát trước mặt tôi, hai tay dâng cao chiếc lệnh tiễn ngọc thạch:
"Thần linh không bỏ đất Văn Lang. Vua Hùng đời thứ mười tám đã chọn đúng người mang huyết mạch giữ nước. Chiến công của tráng sĩ bến Chợ Bờ sẽ được khắc vào sử đá của vương triều, đời đời con cháu người Lạc sẽ hát khúc ca này mỗi mùa mở hội đua thuyền!"
Tiếng reo hò của muôn dân lại một lần nữa bùng nổ, vang dội khắp cả một vùng hợp lưu sông Hồng và sông Lô.
Cha tôi lấy từ trong bọc vải gai ra một chiếc dùi gỗ bọc da mang theo từ đình làng. Ông trao chiếc dùi vào tay tôi, ánh mắt rạng ngời niềm tự hào vô bờ bến:
"Hãy đánh tiếng trống đầu tiên khai thông dòng sông đi, con trai của bến Chợ Bờ."
Tôi đón lấy chiếc dùi gỗ nặng trĩu. Cánh tay tôi dù còn nhức buốt nhưng khi nâng chiếc dùi lên ngang ngực, sức mạnh ấm nóng từ chiếc vòng đồng Tiên vương lại râm ran chảy qua từng khớp xương.
Tôi bước tới trước mặt trống thiêng, hít một hơi thật sâu làn gió mát lành của đất Phong Châu, rồi dồn hết linh lực giáng mạnh dùi gỗ vào tâm điểm mặt trời mười bốn cánh.
"Tùng!"
Tiếng đồng trầm hùng rền vang như sấm dậy giữa trời quang.
Sóng âm từ mặt trống lan tỏa khắp mặt nước ngã ba sông Bạch Hạc, dội vào vách núi Nghĩa Lĩnh xa xa, vang qua những rặng cọ đồi chè, bay thẳng về kinh đô Phong Châu của các Vua Hùng. Tiếng trống như xua tan đi tất cả uế khí, tanh tưởi và nỗi kinh hoàng của những ngày bị thủy quái ngăn sông cấm chợ.
Từ khúc sông phía thượng nguồn sông Lô và hạ nguồn sông Thao, những đoàn thuyền buôn chở gạo nếp, muối mỏ, rìu đồng và vải vóc từng phải nằm chờ trong âu thuyền suốt nhiều tháng qua bắt đầu đồng loạt giương buồm. Tiếng gõ cọc chèo lách cách, tiếng hò reo của những người lái buôn xuôi ngược hòa vào tiếng trống thiêng rộn rã.
Những cánh buồm nâu hình cánh dơi lại no gió, rẽ làn nước đỏ phù sa lướt qua bến Chợ Bờ.
Huyết mạch giao thương của cả vương quốc Văn Lang đã chính thức được khai thông. Dòng sông Mẹ lại hiền hòa ôm lấy những đứa con của đất Lạc, chở nặng phù sa bồi đắp cho những cánh đồng lúa nước xanh ngút ngàn.
Tôi đứng trên bãi cát bến Chợ Bờ, buông chiếc dùi trống xuống chân, ngước nhìn đàn chim lạc đang chao liệng trên nền trời chiều đỏ ối. Vực xoáy nghìn năm dưới chân tôi đã khép miệng, chỉ còn lại dòng nước cuồn cuộn chảy mãi về biển lớn, mang theo câu chuyện về người thợ lặn trẻ tuổi mang hình xăm rồng xé nước diệt Giao Long giữ yên bờ cõi non sông.