Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 1: Đêm Chuyển Dạ
Đêm mồng hai tháng hai năm ấy, làng Hạ Trạch chìm trong một thứ rét ngọt rất riêng của vùng ven sông Đáy. Sương từ mặt sông bò lên đê, len qua những rặng…
Nội dung chương
Đêm mồng hai tháng hai năm ấy, làng Hạ Trạch chìm trong một thứ rét ngọt rất riêng của vùng ven sông Đáy. Sương từ mặt sông bò lên đê, len qua những rặng tre ướt, phủ một lớp trắng mờ lên mái ngói âm dương của những ngôi nhà nằm co ro sau lũy tre làng. Trong căn nhà ba gian của thầy đồ Ngô Văn Tư, ngọn đèn dầu lạc leo lét trên bàn thờ, hắt thứ ánh sáng vàng đục lên vách đất, làm cho bóng người qua lại cứ dài ra rồi ngắn lại theo từng cơn gió lùa qua khe cửa.
Phạm Thị Mây nằm trên chiếc giường tre kê sát buồng trong, người vã mồ hôi dù trời rét căm căm. Cơn đau đầu tiên đến từ lúc gà vừa gáy canh ba của đêm hôm trước, ban đầu còn thưa, còn chịu được, đến chiều nay thì dồn dập như trống thúc. Mây mới ba mươi chín tuổi, thân hình vốn đã gầy, mấy tháng cuối thai kỳ bụng lại vượt mặt, đi đứng phải vịn tường. Bà đỡ Hai Lựu ngồi bên mép giường, tay áo xắn cao, vừa xoa bụng cho sản phụ vừa luôn miệng trấn an bằng cái giọng khàn khàn của người đã đỡ không biết bao nhiêu đứa trẻ trong làng.
- Cố lên cô Mây. Đau thế này là con nó muốn ra rồi. Đau càng dồn thì càng mau thấy mặt con.
Tư đứng ngoài hiên, đi đi lại lại trên nền đất nện đã bóng lên vì bao năm tháng. Ông là thầy đồ nghèo, bốn mươi sáu tuổi, người cao gầy, trán rộng, râu thưa đã điểm vài sợi bạc. Bình thường ông là người điềm đạm, nói năng có chừng mực, học trò trong làng đứa nào cũng sợ cái uy nghiêm lặng lẽ của ông. Nhưng đêm nay ông không giữ nổi vẻ điềm đạm ấy. Hai bàn tay ông chắp sau lưng, nắm chặt đến trắng khớp, thỉnh thoảng lại dừng bước, ghé tai nghe ngóng động tĩnh trong buồng. Mỗi lần nghe tiếng vợ rên khẽ, ngực ông lại thắt lại một nhịp.
Bà ngoại Đặng Thị Sen từ nhà dưới đi lên, tay bưng chậu nước nóng bốc khói, tay kia cầm bó lá xông đã chuẩn bị từ sớm. Bà sáu mươi sáu tuổi, lưng đã hơi còng nhưng mắt còn tinh, bước chân còn nhanh nhẹn. Bà là mẹ ruột của Mây, ở góa từ sớm, một mình nuôi con gái khôn lớn, nên tình thương dành cho con và cho đứa cháu sắp chào đời đều sâu nặng. Thấy con rể cứ đi vòng vòng ngoài hiên, bà khẽ gắt yêu.
- Thầy cứ ngồi xuống cho tôi nhờ. Thầy đi nữa là nền nhà nó mòn thêm một tấc đấy. Đàn bà đẻ là cửa mả, nhưng trời thương thì mẹ tròn con vuông. Việc của thầy bây giờ là giữ cho đèn đừng tắt, nước đừng nguội.
Tư gật đầu, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên bếp, nhưng mắt vẫn không rời tấm liếp che cửa buồng. Trong bếp, nồi nước lá bưởi sôi lục bục, mùi tinh dầu thơm hăng bốc lên, quyện với mùi khói rơm và mùi đất ẩm ngoài sân tạo thành một thứ mùi rất đặc trưng của những đêm sinh nở ở làng quê Bắc Bộ. Con chó mực nằm cuộn tròn bên chân cột, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu nghe ngóng rồi lại gục xuống, mắt lim dim.
Điều khiến bà Sen bận tâm nhất đêm nay không phải là nước nóng hay lá xông. Ngay từ khi con gái bắt đầu đau bụng, bà đã lặng lẽ làm một việc mà bà cho là không thể thiếu. Bà lấy bát vôi bột trắng tinh vẫn để dành trên gác bếp, ra đứng trước ngưỡng cửa buồng đẻ, quỳ xuống nền đất lạnh, dùng hai ngón tay chấm vôi vẽ một cây cung lớn ngay trên ngưỡng cửa. Cây cung được vẽ cong và căng, dây cung thẳng, rồi bà vẽ thêm một mũi tên dài, đầu tên chĩa thẳng ra phía cổng nhà. Bà vừa vẽ vừa lẩm nhẩm khấn trong miệng, lời khấn của người già truyền lại từ đời bà ngoại của bà, rằng cung này để bắn đuổi những thứ không sạch sẽ lảng vảng quanh buồng đẻ, nhất là loài Mẹ Ranh chuyên rình rập sản phụ và trẻ sơ sinh trong những đêm đầu tiên.
Tư nhìn mẹ vợ vẽ cung vôi, trong lòng nửa tin nửa ngờ. Ông học chữ thánh hiền, thuộc làu kinh sách, vốn không phải người mê tín đến mức mù quáng. Nhưng ông cũng là người làng Hạ Trạch, lớn lên giữa những câu chuyện kể bên bếp lửa về ma da dưới sông, về nàng ranh dưới gầm giường, về những đứa trẻ yểu mệnh không qua được cữ trăm ngày. Ông không dám gạt đi lệ xưa của mẹ vợ. Đêm nay, khi vợ ông nằm trên giường sinh tử chưa rõ, ông thấy cây cung vôi trắng trên ngưỡng cửa đất nện kia bỗng thành một điểm tựa kỳ lạ cho lòng mình.
- Mẹ vẽ thế này đã đủ chưa. Có cần con ra đình thắp hương khấn ông Từ một tiếng không.
Bà Sen lắc đầu, phủi vôi trên tay.
- Đình là việc của đình. Nhà là việc của nhà. Cung vôi này giữ cửa buồng. Thầy chỉ cần nhớ, từ giờ đến khi cháu nó đầy cữ, cửa buồng này không được để trống, đèn không được để tắt. Trẻ con mới sinh vía còn yếu, người mẹ mới sinh người còn rỗng, thứ gì cũng dễ lọt vào.
Lời dặn ấy Tư nghe mà chưa hiểu hết. Ông chỉ gật đầu và ghi nhớ như ghi nhớ một bài học thuộc lòng.
Cơn đau của Mây đến lúc nửa đêm thì dữ dội hẳn. Bà Hai Lựu cho người nhà nấu thêm nước, trải thêm chiếu, và bắt đầu chỉ huy bằng giọng dứt khoát của người có nghề. Bà đã đỡ đẻ cho gần hết đàn bà trong làng Hạ Trạch suốt mấy chục năm, từ những ca dễ chỉ một loáng là xong cho đến những ca khó kéo dài hai ngày hai đêm. Bà nhìn sắc mặt Mây, bắt mạch, xoa bụng, rồi quay ra nói với Tư đang đứng thập thò ngoài cửa liếp.
- Ông đồ ra ngoài sân đi. Chỗ này là việc đàn bà. Ông ở đây chân tay thừa thãi, tôi lại vướng. Khi nào xong tôi gọi.
Tư lùi ra sân. Đêm đã khuya, trăng thượng tuần treo lơ lửng trên ngọn tre, sáng mờ mờ đủ để nhìn thấy lối đi lát gạch nghiêng ra cổng. Xa xa, tiếng mõ cá từ đình làng vọng lại theo gió, rồi tiếng chó sủa vu vơ ở xóm dưới. Ông đứng giữa sân, ngửa mặt nhìn trời, trong lòng bỗng dâng lên một niềm mong mỏi giản dị mà mãnh liệt hơn bất cứ hoài bão nào ông từng có trong đời. Ông không cầu con mình sau này đỗ đạt làm quan, không cầu vinh hoa phú quý. Ông chỉ cầu cho vợ ông qua được đêm nay, cho đứa bé cất được tiếng khóc đầu tiên, cho căn nhà nghèo này từ nay có tiếng trẻ con cho ấm cửa ấm nhà.
Vợ chồng ông lấy nhau đã nhiều năm mà đường con cái muộn màng. Đến khi Mây mang thai lần này, cả nhà mừng như bắt được vàng. Bà Sen dọn hẳn sang ở cùng từ tháng thứ bảy để chăm con gái.
Tiếng rên của Mây trong buồng bỗng cao lên rồi chuyển thành tiếng kêu dồn dập. Bà Hai Lựu nói to liên hồi, bà Sen đáp lại, tiếng nước đổ, tiếng vải xé. Tư đứng ngoài sân mà chân như chôn xuống đất. Ông nghe thấy bà đỡ hô một tiếng dài.
- Rặn đi cô Mây. Rặn nữa. Thấy đầu rồi.
Rồi một khoảng lặng ngắn đến nghẹt thở. Và sau khoảng lặng ấy, tiếng khóc của trẻ sơ sinh bật lên, trong trẻo và khỏe mạnh, xé toang màn đêm tĩnh mịch của làng Hạ Trạch. Tư đứng giữa sân, hai chân bỗng mềm nhũn, phải vịn vào thân cây cau mới khỏi khuỵu xuống. Bà Sen từ trong buồng chạy ra, mặt ràn rụa nước mắt mà miệng cười không khép lại được.
- Con trai thầy ạ. Con trai khỏe mạnh lắm. Mẹ tròn con vuông rồi.
Bà Hai Lựu bế đứa bé đã được quấn tã cẩn thận ra hiên cho cha nó nhìn mặt. Đứa bé đỏ hỏn, tóc đen và dày, hai nắm tay nhỏ xíu nắm chặt, miệng còn mếu máo sau cơn khóc đầu tiên. Tư đưa hai bàn tay chai sần vì cầm bút và làm vườn ra đón con, động tác vụng về đến mức bà đỡ phải đỡ khuỷu tay cho ông. Ông nhìn gương mặt nhỏ xíu ấy rất lâu, trong lòng trào lên một cảm xúc khó gọi thành tên, vừa mừng, vừa sợ, vừa thấy trách nhiệm nặng trĩu trên vai.
- Đặt tên nó là An nhé mình. Ngô Văn An. Mong nó một đời bình an.
Mây nằm trong buồng, người kiệt sức, tóc bết mồ hôi dính trên trán, nghe chồng nói qua tấm liếp thì thều thào đáp lại, giọng yếu nhưng ánh mắt sáng lên.
- An. Ừ, An của mẹ.
Đêm ấy, sau khi bà đỡ đã tắm rửa cho đứa bé bằng nước lá thơm, dặn dò đủ điều về kiêng cữ, và bà Sen đã nấu cho con gái bát cháo hành nóng, cả nhà mới dần yên tĩnh. Đứa bé ngủ say trong chiếc nôi tre kê sát giường mẹ, hơi thở đều đặn. Mây thiếp đi vì mệt. Tư không ngủ được. Ông ngồi bên bàn, rót chén trà đã nguội, nhìn ngọn đèn dầu cháy nhỏ và đều, nghe tiếng dế kêu ngoài vườn và tiếng sông Đáy vỗ rất khẽ vào bờ đê xa xa.
Gần về sáng, khi canh tư vừa điểm, Tư bỗng giật mình vì một âm thanh lạ trên mái nhà. Đó là tiếng bước chân đi trên ngói. Không phải tiếng mưa, không phải tiếng mèo chạy, cũng không phải tiếng cành cây quệt vào mái. Đó là tiếng chân người, từng bước một, đi rất chậm, rất rõ. Điều kỳ lạ là bước chân ấy không đều. Một bước nặng, một bước nhẹ kéo lê, như thể người đi trên mái nhà kia có một chân lành và một chân đau, cứ đi một bước lại phải kéo theo bước sau.
Tư nín thở lắng nghe. Tiếng chân đi từ đầu hồi phía đông sang phía tây, ngang qua đúng gian buồng nơi vợ con ông đang ngủ, rồi dừng lại. Im lặng kéo dài đến mức ông tưởng mình vừa nghe nhầm vì thức trắng đêm. Nhưng rồi tiếng chân lại cất lên, khập khiễng, chậm rãi, đi ngược trở lại, và lần này ông còn nghe thêm một âm thanh rất khẽ khác đi kèm, như tiếng vải ướt quệt trên mặt ngói, hoặc tiếng tóc dài quét qua lớp rêu khô.
Con chó mực trong bếp bỗng ngẩng phắt đầu, tai dựng đứng, nhưng nó không sủa. Nó chỉ rên ư ử trong cổ họng rồi rúc sâu hơn vào góc bếp, như thể nó nhận ra một thứ gì đó mà nó không dám đối mặt.
Tư đứng dậy, cầm cây đèn dầu, bước ra hiên ngửa cổ nhìn lên mái. Trăng đã lặn, trời tối sẫm trước lúc rạng đông. Mái ngói trống trơn, không một bóng người, không một con vật. Chỉ có sương đêm đọng trên ngói lấp lánh những điểm sáng li ti. Ông đứng rất lâu ngoài hiên lạnh, lắng nghe, nhưng tiếng chân khập khiễng ấy không quay lại nữa.
Khi ông quay vào nhà, bà Sen đã thức dậy từ lúc nào, đứng bên cửa buồng nhìn ông, ánh mắt già nua sắc sảo như đã hiểu điều gì.
- Thầy cũng nghe thấy à.
Tư gật đầu, chưa biết nói sao. Bà Sen nhìn lên mái nhà, rồi nhìn xuống cây cung vôi trắng vẫn còn nguyên vẹn trên ngưỡng cửa buồng đẻ, giọng bà trầm xuống.
- Cung còn nguyên thì nó chưa vào được. Nhưng nó đã đến ngửi hơi nhà này rồi đấy, thầy ạ.
Ngoài sân, trời bắt đầu hửng sáng, và từ trong nôi, bé An cựa mình, khóc oe oe đòi bú, tiếng khóc khỏe mạnh át đi mọi nỗi bất an vừa len vào căn nhà nhỏ trong đêm đầu tiên làm cha của thầy đồ Tư.