Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 3: Đêm Chín Mươi Chín
Ngày mười hai tháng năm, An tròn chín mươi chín ngày tuổi. Tư đã đánh dấu ngày này trên lịch từ trước đó cả tuần bằng một vòng tròn mực tàu đỏ chót. Theo…
Nội dung chương
Ngày mười hai tháng năm, An tròn chín mươi chín ngày tuổi. Tư đã đánh dấu ngày này trên lịch từ trước đó cả tuần bằng một vòng tròn mực tàu đỏ chót. Theo lệ làng Hạ Trạch, đầy cữ trăm ngày là dịp nhà có trẻ nhỏ làm mâm cỗ tạ ơn gia tiên và cảm ơn bà đỡ, cảm ơn những người đã giúp đỡ trong những tháng đầu tiên. Dù nhà nghèo, Tư vẫn quyết làm một mâm cỗ tươm tất. Ông bán đi mấy đấu thóc để dành, mua con gà trống thiến béo, cân thịt ba chỉ, ít hương hoa và một cút rượu trắng ngon để thắp hương bàn thờ tổ.
Mây bế con ngồi trên giường, nhìn chồng bày biện mà lòng vừa mừng vừa lo. Mấy đêm nay An vẫn khóc đúng giờ Tý, nhưng ban ngày nó vẫn bú khỏe, chơi ngoan, da dẻ hồng hào. Người mẹ trẻ tự nhủ có lẽ con mình chỉ khó ngủ một thời gian rồi sẽ qua. Nàng mặc cho con bộ áo gấm đỏ nhỏ xíu do bà Sen may từ mảnh vải để dành, đội lên đầu con chiếc mũ len mỏng, nhìn con trai bụ bẫm ngồi trong lòng mà không giấu được vẻ tự hào.
- Mình xem này, An nhà mình mai là đầy cữ rồi. Qua được mai là chắc chân như lời mẹ nói.
Tư đang lau bàn thờ, nghe vợ nói thì dừng tay. Ông muốn đáp lại bằng một câu mừng rỡ, nhưng cổ họng ông nghẹn lại vì một nỗi sợ không tên đã tích tụ suốt mấy tuần. Ông chỉ cười gượng.
- Ừ. Qua được mai thì tốt. Mai tôi mời cả ông lang sang xem mạch cho con một lượt cho yên tâm.
Ông lang mà Tư nhắc đến là lang y có tiếng nhất làng Hạ Trạch, người đã ngoài sáu mươi, chữa bệnh bằng thuốc nam và bắt mạch kê đơn cho không biết bao nhiêu thế hệ trong làng. Buổi chiều hôm ấy, ông lang chống gậy sang nhà thầy đồ, ngồi bên nôi nhìn đứa bé rất lâu. Ông bắt mạch cho An bằng ba ngón tay đặt lên cổ tay nhỏ xíu, nghe nhịp thở, xem sắc mặt, vạch mí mắt, lại bế đứa bé lên cân nhắc sức nặng trong tay. Tư đứng bên cạnh, nín thở chờ đợi từng cái gật đầu hay lắc đầu của ông lang.
Cuối cùng ông lang đặt đứa bé xuống, vuốt râu, nói chắc nịch.
- Mạch hòa, khí huyết đều, da thịt có sức sống. Đứa trẻ này khỏe mạnh lắm, thầy đồ cứ yên tâm. Khóc đêm giờ Tý thì trẻ nào cũng có thời quấy dạ đề, qua cữ là hết. Mai làm cỗ đầy cữ, cho nó ăn vía lành của họ hàng, từ nay nó càng cứng cáp.
Cả nhà nghe vậy đều thở phào. Bà Sen mừng đến mức mang thêm đĩa xôi gấc đỏ au lên bàn thờ. Mây ôm con, hôn lên trán con, nước mắt rưng rưng vì nhẹ nhõm. Chỉ có Tư, dù ngoài mặt cảm ơn ông lang rối rít và biếu thêm gói chè ngon, trong lòng vẫn còn một góc không yên. Ông nhớ tiếng chân trên mái đêm đầu tiên. Ông nhớ câu nói lửng lơ của ông Từ đình. Ông nhớ những cơn khóc đúng giờ không sai một khắc. Nhưng trước niềm vui của vợ và mẹ vợ, ông không nỡ nói ra nỗi sợ của mình để phá hỏng ngày vui. Ông tự nhủ có lẽ mình lo xa, có lẽ ông lang nói đúng, có lẽ ngày mai qua đi, mọi chuyện sẽ thật sự yên ổn.
Buổi trưa, tranh thủ lúc Mây ngủ, Tư còn đi một vòng quanh nhà kiểm tra những thứ mà trước đây ông chưa bao giờ để ý. Ông xem lại mái ngói phía trên buồng đẻ, thấy mấy viên ngói xô lệch vì mưa gió, bèn bắc thang trèo lên chỉnh lại, dù bà Sen can ngăn bảo việc ấy để mai cũng được. Khi đứng trên mái, ông nhìn bao quát cả làng Hạ Trạch trong nắng trưa: con đê sông Đáy chạy dài, đình làng với mái cong, và ở cuối làng là nhà tổ họ Ngô với khoảng sân rộng và cái giếng sau nhà mà từ nhỏ ông đã nghe người lớn dặn không được bén mảng đến gần khi trời tối. Ông đứng trên mái nhà mình rất lâu, trong lòng bỗng dâng lên một ý nghĩ kỳ lạ rằng mái ngói này, nơi ông từng nghe tiếng chân khập khiễng đêm con chào đời, từ nay sẽ không còn là một mái nhà bình thường nữa.
Mâm cỗ đầy cữ được dọn sớm từ lúc trời còn chưa tối hẳn. Họ hàng hai bên đến không đông nhưng đủ ấm cúng. Người thì bế An chuyền tay nhau, người thì chúc tụng vợ chồng thầy đồ có phúc. Trưởng họ Ngô Văn Cừ cũng cho người mang sang một phong bao nhỏ và lời chúc lấy lệ, nhưng bản thân ông không đến. Tư hơi chạnh lòng, nhưng không nói. Ông rót rượu, thắp hương, khấn trước bàn thờ gia tiên bằng tất cả lòng thành của một người cha lần đầu tiên biết thế nào là sợ mất đi điều quý giá nhất đời mình.
Bà Hai Lựu cũng đến dự cỗ, mang theo một gói muối nhỏ và mấy đồng xu lẻ để mừng tuổi cho đứa bé theo lệ. Bà bế An lên, lật qua lật lại xem xét như mọi lần vẫn làm với những đứa trẻ do tay mình đỡ, rồi gật đầu hài lòng. Nhưng khi bế trả đứa bé cho Mây, bà ghé tai người mẹ trẻ nói một câu mà Tư đứng gần nên nghe được.
- Đêm nay là đêm cuối của cữ, cô cứ để đèn sáng trong buồng, đừng tắt. Trẻ qua cữ hay trở dạ lúc nửa đêm, có đèn thì người nhà còn kịp trở tay.
Mây cười, bảo bà cứ yên tâm, nhà đã quen để đèn suốt từ ngày sinh. Bà Hai Lựu gật đầu, nhưng ánh mắt bà khi nhìn ra ngưỡng cửa có cây cung vôi thì dừng lại lâu hơn bình thường, như thể bà cũng biết cây cung ấy không chỉ là một lệ vẽ cho có.
Ông khấn rất lâu. Ông khấn cho con trai qua được đêm nay. Ông khấn cho vợ ông khỏe lại. Ông khấn cho căn nhà này từ nay yên ổn. Khói hương quấn quanh những bài vị gỗ đã cũ, mùi trầm quyện với mùi xôi gấc và mùi thịt gà luộc tạo thành một không khí ấm cúng hiếm hoi. Trong khoảnh khắc ấy, Tư gần như tin rằng tổ tiên sẽ nghe thấy lời ông, rằng mọi lệ làng và lễ nghi ông đã làm đủ sẽ giữ được con ông ở lại.
Đêm xuống. Khách khứa về hết. Bà Sen dọn dẹp rồi về buồng dưới nghỉ, dặn con rể con gái đêm nay cứ ngủ một giấc cho lại sức, mai còn dậy sớm tạ lễ. Mây cho con bú no, đặt con vào nôi, rồi nằm xuống bên cạnh, tay vẫn đặt hờ lên thành nôi như một thói quen không bỏ được. Tư ngồi ở bàn ngoài gian giữa, chấm lại mấy bài văn của học trò, nhưng mắt ông cứ liếc về phía buồng trong. Đèn dầu vẫn cháy đều. Cây cung vôi trên ngưỡng cửa đã được bà Sen vẽ lại từ chiều, nét vôi trắng và rõ, mũi tên chĩa thẳng ra cổng.
Đồng hồ quả lắc treo trên vách gõ mười một tiếng. Giờ Tý sắp đến.
Tư đặt bút xuống, đứng dậy đi ra hiên. Đêm nay trời không trăng, mây dày che kín sao, không khí nặng và ngột ngạt như sắp có mưa mà mưa mãi không rơi. Con chó mực nằm trước sân bỗng ngẩng đầu lên, tai vểnh về phía cổng, rồi nó đứng dậy, lùi dần vào gầm chõng, bụng áp sát đất. Tư nhìn theo hướng mắt của con chó. Ngoài cổng tre, con đường làng tối đen không một bóng người.
Rồi ông nghe thấy tiếng cười.
Tiếng cười ấy đến từ ngoài hiên, rất gần, ngay phía sau lưng ông. Đó là tiếng cười của đàn bà, the thé, cao và mỏng, kéo dài thành một tràng ngắn rồi ngắt quãng, nghe vừa chói tai vừa lạnh gáy. Không phải tiếng cười vui. Đó là thứ tiếng cười như của người đang thích thú trước nỗi sợ của kẻ khác, cười mà không có chút hơi ấm nào của người sống. Tư quay phắt lại. Hiên nhà trống trơn. Chiếc chõng tre vẫn ở nguyên chỗ. Bụi chuối sau nhà đứng im không một lá động. Không có ai cả.
Nhưng con chó mực thì đã chui hẳn vào gầm chõng, nằm im thin thít, không sủa một tiếng nào. Một con chó giữ nhà khôn ngoan, hễ có người lạ đến cổng là sủa ầm ĩ, vậy mà đêm nay, trước tiếng cười the thé ngay ngoài hiên nhà mình, nó nằm im như hóa đá, chỉ có sống lưng là run lên từng đợt rất khẽ.
Tư đứng chết trân ngoài hiên, tay nắm chặt cột nhà. Ông nghe rõ tiếng tim mình đập trong lồng ngực. Từ trong buồng, An vẫn ngủ yên, chưa đến giờ khóc quen thuộc của nó. Mây cũng đã thiếp đi vì mệt sau một ngày tiếp khách. Chỉ có ông là người duy nhất nghe thấy tiếng cười ấy, và con chó là sinh linh duy nhất cùng ông biết rằng ngoài hiên này, vừa có một thứ gì đó đứng cười rồi biến mất.
Ông bước nhanh vào nhà, đóng cửa, cài then thật chặt. Tay ông run đến mức phải cài hai lần mới xong. Ông ngồi xuống bên nôi con, đặt tay lên ngực đứa bé để cảm nhận hơi thở đều đặn của nó, và tự nhủ bằng tất cả lý trí còn lại của một thầy đồ rằng mình vừa nghe nhầm, rằng gió và mệt mỏi đã làm tai ông sinh ảo giác.
Nhưng sâu trong lòng, ông biết mình không nghe nhầm. Tiếng cười the thé ngoài hiên đêm chín mươi chín ngày ấy, và sự im lặng bất thường của con chó nhà, là lời báo trước rõ ràng nhất mà ông từng nhận được trong đời. Đêm mai là ngày thứ một trăm. Ông ngồi bên nôi con, mắt không dám chớp lâu, chờ giờ Tý đến như chờ một bản án đã tuyên mà chưa biết sẽ thi hành ra sao.