Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 5: Nấm Mộ Dưới Gốc Ổi
Đám tang của một đứa trẻ mới một trăm ngày tuổi không có kèn trống ồn ào như đám tang người lớn. Ở làng Hạ Trạch, trẻ chết yểu được chôn cất lặng lẽ,…
Nội dung chương
Đám tang của một đứa trẻ mới một trăm ngày tuổi không có kèn trống ồn ào như đám tang người lớn. Ở làng Hạ Trạch, trẻ chết yểu được chôn cất lặng lẽ, nhanh gọn, theo lệ là không để qua đêm thứ hai, không khóc lóc quá to kẻo vong trẻ quyến luyến không siêu thoát được. Nhưng lệ là lệ của làng, còn lòng cha mẹ thì không có lệ nào ngăn được nước mắt. Suốt đêm An mất, Mây ôm chiếc áo gấm đỏ của con mà khóc đến lả người, gọi tên con trong vô thức, hết lần này đến lần khác, cho đến khi giọng nàng khản đặc không còn ra tiếng nữa, chỉ còn những cơn nấc nghẹn trong bóng tối.
Tư không khóc thành tiếng. Ông ngồi suốt đêm bên chiếc giường nhỏ nơi đặt thi thể con, tay đặt hờ lên tấm vải trắng phủ mặt đứa bé, mắt mở trừng trừng nhìn ngọn đèn dầu cháy đến cạn. Người thầy đồ vốn quen cầm bút viết chữ nghĩa thánh hiền, quen dạy học trò về lẽ sinh tử tuần hoàn, đến khi chính con mình nằm lạnh ngắt trước mặt, mới hiểu rằng mọi chữ nghĩa trên đời đều bất lực trước nỗi đau của một người cha. Ông không nói một lời nào suốt đêm ấy. Bà Sen phải mấy lần lay vai con rể, nhắc ông uống ngụm nước, ông cũng chỉ lắc đầu.
Sáng hôm sau, họ hàng và hàng xóm đến giúp lo việc chôn cất. Theo ý của Tư, An được chôn ngay sau vườn nhà, dưới gốc ổi già ở cuối mảnh đất. Gốc ổi ấy đã có từ khi Tư còn nhỏ, thân xù xì, tán lá sum suê, mùa nào cũng cho quả ngọt mà lũ học trò vẫn hay xin thầy hái cho. Tư chọn chỗ ấy vì ông nghĩ con mình nằm ở đó sẽ gần nhà, gần cha mẹ, không phải ra bãi tha ma cuối làng lạnh lẽo và xa xôi, nơi chôn những người chết đường và trẻ con vô thừa nhận. Ông tự tay đào huyệt cho con. Đất sau vườn mềm và ẩm, lưỡi cuốc bổ xuống nghe phập phập trong buổi sáng im lặng đến rợn người. Mấy người hàng xóm định đỡ tay, ông đều từ chối khéo. Ông muốn tự mình làm việc cuối cùng này cho con.
Chiếc quan tài nhỏ bằng gỗ tạp được đóng vội trong đêm, sơn trắng, đặt vừa thân hình bé xíu của An. Bà Hai Lựu tắm rửa cho đứa bé lần cuối bằng nước lá thơm, mặc lại cho nó bộ áo gấm đỏ ngày đầy cữ, rồi đặt vào quan tài một cách nhẹ nhàng như đặt một đứa trẻ đang ngủ. Mây được dìu ra vườn, người yếu đến mức phải có hai người đỡ hai bên. Nàng quỳ xuống bên huyệt, nhìn chiếc quan tài nhỏ được hạ xuống lòng đất, miệng mấp máy gọi tên con mà không thành tiếng. Khi nắm đất đầu tiên rơi xuống nắp quan tài nghe một tiếng bộp khô khốc, Mây gục hẳn xuống, ngất đi trong tay mẹ.
Đám chôn cất xong thì trời đã đứng bóng. Một nấm mộ nhỏ mọc lên dưới gốc ổi, không bia đá, chỉ có một phiến gạch cũ cắm làm dấu và bát hương cắm vội còn bốc khói. Tư đứng rất lâu trước mộ con sau khi mọi người đã về hết. Ông nhìn tán ổi xanh rì trên đầu, nhìn con đê xa xa, nhìn căn nhà ba gian lặng ngắt phía trước, và thấy cả thế giới quen thuộc của mình bỗng trở nên trống rỗng một cách đáng sợ. Tiếng cười khanh khách của con, tiếng ê a mỗi sáng, hơi ấm của thân hình nhỏ bé trong vòng tay, tất cả đã nằm lại dưới lớp đất vàng sau vườn, chỉ cách buồng ngủ của vợ chồng ông vài chục bước chân.
Những ngày sau đám tang là những ngày dài và nặng nề nhất trong đời Tư. Mây suy sụp hoàn toàn. Nàng bỏ ăn, bỏ ngủ, người gầy rộc đi trông thấy. Sữa căng tức trong ngực mà không có con để bú, nàng phải vắt bỏ trong nước mắt. Đêm nào nàng cũng giật mình tỉnh giấc đúng giờ Tý, lắng nghe một lúc rồi mới nhớ ra con mình đã không còn nữa, và tiếng khóc lại bật lên, nén chặt trong chăn để không làm phiền chồng, nhưng Tư nằm bên cạnh nghe hết, đêm nào cũng nghe hết. Lớp học của Tư tạm nghỉ. Học trò đến nhà thấy cửa đóng im ỉm thì lặng lẽ quay về. Bà Sen ở lại chăm con gái, nấu cháo ép con ăn từng thìa, miệng luôn dỗ dành mà mắt bà cũng đỏ hoe không lúc nào khô.
Họ hàng trong họ Ngô cũng đến thắp hương chia buồn, người ít kẻ nhiều, lời an ủi đủ cả. Nhưng Tư để ý thấy một điều lạ. Ai đến cũng nói những câu chung chung về số phận, về trời kêu ai nấy dạ, không một ai hỏi kỹ đứa bé mất vì bệnh gì, mất vào ngày thứ bao nhiêu, và nhất là không một ai nhắc đến nhà tổ hay cái giếng sau nhà tổ. Trưởng họ Cừ cho người mang vòng hoa và tiền phúng đến, vẫn không thân chinh xuất hiện. Sự vắng mặt ấy, trong lúc tang gia bối rối, Tư chưa nghĩ sâu, nhưng nó để lại trong lòng ông một vết gợn nhỏ, như một hạt sạn trong bát cơm mà người ta chưa kịp nhằn ra.
Một tuần sau, khi Mây đã gượng ngồi dậy được, bà Sen mới dám nói với con rể một câu mà bà đã giữ trong lòng từ đêm An mất.
- Thầy ạ, tôi nói điều này thầy đừng giận. Đứa bé đi đúng ngày cữ, lại đi nhanh như thế, tôi sợ không phải là bệnh thường đâu. Nhà mình nên kín tiếng, nhưng trong lòng phải biết mà đề phòng về sau. Vợ chồng thầy còn trẻ, còn có con nữa. Lần sau, phải giữ cho kỹ hơn lần này gấp mười lần.
Tư nghe mẹ vợ nói, không đáp, chỉ nhìn ra nấm mộ dưới gốc ổi ngoài vườn. Ông biết bà nói đúng. Và ông cũng biết, từ trong sâu thẳm, mình đã bắt đầu sợ lần sau ấy, sợ một cách mơ hồ mà day dứt, như người đã một lần trượt chân trên miệng vực thì không bao giờ còn đi qua chỗ ấy với bước chân bình thản được nữa.
Tư cố gắng tỏ ra cứng rắn để làm chỗ dựa cho vợ, nhưng chính ông cũng đang chìm dần trong một nỗi dằn vặt không lối thoát. Ông lật đi lật lại trong đầu từng chi tiết của ngày thứ một trăm. Giá như ông không mở lớp học buổi sáng hôm ấy. Giá như ông mời ông lang ở lại cả ngày. Giá như ông để ý sớm hơn đến những cơn khóc giờ Tý. Giá như cây cung vôi vẽ to hơn, rõ hơn. Và ám ảnh nhất, là hình ảnh năm vết ngón tay trên cổ con. Ông không kể chuyện ấy cho ai ngoài bà Hai Lựu, người đã cùng ông nhìn thấy. Bà đỡ già chỉ dặn ông một câu trước khi về.
- Chuyện này ông đừng nói bừa ra ngoài. Người ta không tin thì lại bảo nhà ông mê sảng vì đau con. Nhưng ông cứ nhớ lấy. Nhớ cho kỹ vào.
Tư nhớ. Ông nhớ đến mức đêm nào nhắm mắt lại cũng thấy năm vết tím mờ ấy hiện lên trên nền da trắng của con mình.
Đêm sau đám tang ba ngày, khi Mây đã thiếp đi vì kiệt sức sau nhiều đêm khóc, Tư một mình ra vườn ngồi bên mộ con thắp hương. Đêm ấy trăng mờ, gió sông thổi qua tán ổi xào xạc. Ông ngồi rất lâu, không khấn vái thành lời, chỉ ngồi như một người bạn đồng hành câm lặng bên nấm đất mới. Đến khi nén hương tàn quá nửa, ông mới đứng dậy quay vào nhà, nằm xuống bên vợ và thiếp đi trong cơn mệt mỏi tích tụ nhiều ngày.
Và ông mơ một giấc mơ rõ ràng đến mức sau này, mỗi lần nhớ lại, ông vẫn phân biệt được đó không phải là mộng mị thông thường. Trong mơ, ông thấy mình đứng trước nhà tổ họ Ngô ở cuối làng, vào một đêm không trăng không sao. Cổng nhà tổ mở hé. Ông bước qua sân gạch lạnh, đi vòng ra phía sau nhà, đến bên cái giếng cũ mà từ nhỏ ông đã bị người lớn cấm đến gần. Giếng nhà tổ sâu và tối, miệng giếng không có nắp đậy như ngày thường ông vẫn thấy, mà mở toang, đen ngòm như một con mắt khổng lồ nhìn lên trời.
Dưới đáy giếng, có một người đàn bà đứng ngập trong nước đến ngang ngực. Người ấy mặc áo nâu sẫm ướt sũng, tóc dài xõa ra dính bết trên mặt và vai, mặt ngửa lên nhìn thẳng vào ông. Ông không nhìn rõ mặt người ấy vì tóc che gần hết, chỉ thấy đôi mắt mở to, đen và sâu, không chớp, nhìn ông bằng một vẻ oán hận lạnh lẽo đến mức trong mơ mà ông vẫn thấy sống lưng mình đông cứng. Người đàn bà ấy khóc. Tiếng khóc của cô ta vọng từ đáy giếng lên, méo mó vì hơi nước và thành giếng đá, nghe vừa như tiếng khóc của người, vừa như tiếng gió rít qua khe đá. Rồi cô ta chậm rãi giơ một bàn tay lên khỏi mặt nước, bàn tay gầy guộc, trắng bệch, các ngón tay dài ra một cách bất thường, hướng về phía ông như muốn níu lấy, muốn kéo ông xuống cùng.
Tư giật mình tỉnh dậy, mồ hôi ướt đẫm lưng áo dù đêm tháng năm không hề nóng. Tim ông đập thình thịch. Bên cạnh, Mây vẫn ngủ mê mệt, không hay biết gì. Ông ngồi dậy trong bóng tối, lắng nghe. Ngoài vườn, tán ổi vẫn xào xạc trong gió sông. Xa xa, từ phía cuối làng nơi có nhà tổ họ Ngô, ông có cảm giác như vẫn còn vọng lại một tiếng khóc rất khẽ, rất xa, lẫn trong tiếng gió, mà khi ông nín thở nghe kỹ thì lại không thấy gì nữa.
Ông không ngủ lại được đêm ấy. Ông ngồi bên cửa sổ cho đến sáng, nhìn nấm mộ nhỏ của con dưới gốc ổi dần hiện rõ trong ánh bình minh xám xịt. Ông tự hỏi người đàn bà đứng dưới giếng sau nhà tổ trong giấc mơ của ông là ai, và vì sao cô ta lại nhìn ông bằng đôi mắt oán hận đến như vậy, như thể chính ông là người đã gây ra nỗi oan khuất cho cô ta từ rất lâu về trước.