Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 7: Đứa Con Thứ Hai
Ngày mồng bảy tháng chín năm 1932, Mây sinh đứa con thứ hai, vẫn là con trai, vẫn khỏe mạnh, tiếng khóc to và rõ như anh nó ngày trước. Lần sinh này…
Nội dung chương
Ngày mồng bảy tháng chín năm 1932, Mây sinh đứa con thứ hai, vẫn là con trai, vẫn khỏe mạnh, tiếng khóc to và rõ như anh nó ngày trước. Lần sinh này không ồn ào mừng rỡ như lần đầu. Cả nhà đón đứa bé bằng một niềm vui dè dặt, như người cầm một bát nước đầy đi qua cầu khỉ, mừng vì có nước mà sợ sóng sánh đổ mất bất cứ lúc nào. Bà đỡ Hai Lựu vẫn là người đỡ đẻ. Bà tắm cho đứa bé, cân nhắc trong tay rồi nói với vợ chồng Tư bằng giọng cố ý vui vẻ.
- Thằng này nặng tay hơn thằng anh nó đấy. Bú khỏe, ngủ khỏe thì nuôi sướng lắm.
Tư đặt tên con là Bình. Ngô Văn Bình. Sau An là Bình. An Bình. Hai cái tên ghép lại thành điều mong ước giản dị nhất của vợ chồng ông, một đời an bình cho con cái. Khi thốt ra cái tên ấy trước bàn thờ gia tiên, giọng Tư nghẹn lại. Ông nhìn lên bài vị, nhìn xuống đứa bé đỏ hỏn trong tay vợ, và thấy hai cái tên ấy vừa là lời cầu chúc, vừa là một lời thách thức lặng lẽ gửi đến số phận đã từng cướp đi đứa con đầu của ông đúng ngày thứ một trăm.
Lần này Tư không để mọi chuyện diễn ra theo lệ thường như lần trước. Ngay từ trước khi Mây sinh, ông đã chuẩn bị một kế hoạch canh giữ mà ông nghĩ là chu toàn nhất trong khả năng của một thầy đồ nghèo. Ông thuê hẳn một người đàn bà góa khỏe mạnh ở xóm bên, tên là thím Ba, sang ở cùng nhà trong ba tháng đầu để phụ canh buồng ban đêm cùng bà Sen, thay phiên nhau thức, không để buồng đẻ có lúc nào không có người tỉnh táo. Ông cho đốt lửa suốt đêm trong chiếc bếp lò nhỏ đặt ngoài hiên sát cửa buồng, lửa không được tắt, khói không được đứt đoạn, theo lời người già dặn là lửa ấm thì tà khí không dám bén mảng. Ông treo tỏi từng chùm ở đầu giường, ở cửa sổ, ở cửa ra vào. Ông xin được mấy cành dâu tằm tươi, treo thành vòng ở đầu giường sản phụ, lá dâu xanh mướt tỏa mùi thơm ngai ngái khắp buồng. Cây cung vôi trên ngưỡng cửa lần này được bà Sen vẽ to hơn, rõ hơn lần trước, và cứ cách mấy ngày bà lại vẽ đè lên một lượt mới cho nét vôi luôn trắng và sắc.
Hàng xóm nhìn vào nhà thầy đồ thì bảo ông cẩn thận quá, có người còn cười bảo thầy đồ sợ ma hơn sợ giặc. Tư nghe hết mà không giận. Ông chỉ đáp một câu.
- Mất một lần rồi, cẩn thận bao nhiêu cũng không thừa.
Mây nằm trong buồng, nhìn chồng loay hoay với lửa, với tỏi, với cành dâu, nhìn người canh buồng ra vào không ngớt, lòng nàng vừa thương chồng vừa buồn. Nàng biết chồng làm tất cả những điều ấy vì quá đau sau lần mất An, và cũng vì quá sợ lịch sử lặp lại. Nàng nắm tay chồng trong một đêm chàng ngồi canh bên nôi, thì thầm.
- Mình làm thế này, con nó sẽ ở lại với mình, phải không mình.
Tư nắm chặt tay vợ, đáp bằng giọng chắc chắn nhất mà ông có thể có.
- Ở lại. Nhất định ở lại. Lần này tôi không để mất con nữa.
Những ngày đầu của Bình trôi qua trong sự canh giữ nghiêm ngặt ấy mà bình yên. Đứa bé bú khỏe, tăng cân đều, ít quấy khóc hơn anh nó. Thím Ba canh đêm rất có trách nhiệm, cứ một canh giờ lại dậy kiểm tra tã, kiểm tra chăn, sờ trán đứa bé. Bà Sen thì khỏi nói, bà gần như không rời khỏi buồng đẻ ngoài những lúc đi nấu ăn. Tư dù ban ngày dạy học mệt, đêm nào cũng thức đến qua giờ Tý mới chịu đi nằm, và phải tự mắt thấy con ngủ yên sau giờ ấy ông mới yên tâm chợp mắt.
Có những đêm bình yên đến mức Tư gần như thuyết phục được chính mình rằng lần này mọi chuyện sẽ khác. Bình nằm trong nôi, ngủ say với hai nắm tay nhỏ giơ lên ngang đầu, thỉnh thoảng lại mỉm cười trong giấc ngủ như đang mơ thấy một điều gì vui lắm. Mây ngồi bên nôi khâu lại chiếc áo nhỏ cho con, miệng khe khẽ hát ru, giọng hát đã có lại sinh khí sau những tháng ngày u ám vì mất An. Bà Sen ngồi ở cửa buồng bóc lạc, nhìn con gái và cháu ngoại mà thỉnh thoảng lại chắp tay khấn thầm cảm ơn trời phật. Tư ngồi ngoài bàn chấm bài, nghe tiếng hát ru của vợ vọng ra, trong lòng dâng lên một hy vọng mong manh rằng sự canh giữ cẩn thận của cả nhà, cộng với vía lành của đứa bé này, sẽ đủ để đi qua mốc trăm ngày một cách trọn vẹn.
Họ hàng đến thăm lần này cũng đông hơn lần trước, phần vì thương vợ chồng thầy đồ mất con đầu, phần vì tò mò xem nhà thầy đồ canh giữ đứa thứ hai ra sao. Ai đến cũng khen Bình khỏe, khen nhà chuẩn bị chu đáo, và không quên dặn thêm một vài mẹo kiêng cữ truyền miệng, người thì bảo treo thêm gương nhỏ ở cửa sổ, người thì bảo để dao rựa dưới gầm giường, người thì bảo lấy tro bếp mới rắc quanh nhà. Tư nghe hết, mẹo nào không tốn kém và không hại gì thì ông làm theo hết, không bỏ sót một mẹo nào, như người chết đuối vớ được bất cứ cọng rơm nào trôi qua cũng nắm chặt lấy. Ông ghi cả những mẹo ấy vào một cuốn sổ nhỏ, cuốn sổ mà sau này sẽ trở thành cuốn nhật ký đếm ngày ám ảnh của đời ông.
Chỉ có một người không đến thăm, cũng không cho người mang quà đến như lần trước. Trưởng họ Cừ. Sự im lặng của nhà tổ lần này còn rõ ràng hơn lần trước. Tư để ý thấy điều ấy, nhưng ông đang dồn hết tâm trí vào việc canh giữ con, nên chỉ ghi nhận trong lòng rồi để đó, chưa có lúc nào ngồi lại mà nghĩ cho thấu vì sao người trưởng họ từng dặn ông phải kín tiếng lại chọn cách lặng im hoàn toàn trước đứa cháu họ thứ hai này.
Nhưng rồi, khi Bình được năm mươi ngày tuổi, vào một đêm cuối tháng mười mát mẻ, điều mà cả nhà sợ nhất đã quay lại, lặng lẽ và chính xác như một chiếc kim đồng hồ không bao giờ chạy sai. Đêm ấy Tư đang ngồi ở gian giữa chấm bài, thím Ba canh trong buồng, bà Sen ngủ chập chờn ở buồng dưới. Đúng lúc trống canh điểm giờ Tý, từ trong buồng bỗng bật lên tiếng khóc thét của trẻ con. Không phải khóc đói. Không phải khóc ướt tã. Đó là tiếng khóc thét dựng đứng, sắc và hoảng loạn, giống hệt tiếng khóc của An ngày trước, đến mức Tư đánh rơi cả bút xuống trang giấy, mực loang ra thành một vệt đen mà ông không hề hay biết.
Ông lao vào buồng. Thím Ba đang bế Bình đi đi lại lại, mặt tái mét, miệng liên tục dỗ dành mà đứa bé vẫn khóc không dứt, mắt nhắm tịt, đầu ngoẹo về phía cửa buồng y hệt anh nó ngày xưa. Mây ngồi dậy trên giường, tay ôm ngực, mặt trắng bệch không còn giọt máu. Nàng nhìn chồng, nói không ra hơi.
- Mình ơi. Nó lại khóc đúng giờ này. Như anh nó.
Tư bế con từ tay thím Ba, áp con vào ngực, cảm nhận thân hình nhỏ bé đang run lên vì khóc, và một nỗi lạnh lẽo quen thuộc chạy dọc sống lưng ông, lạnh hơn cả đêm đông ven sông Đáy. Ông kiểm tra khắp người con, trán mát, bụng mềm, tã khô, không vết cắn, không vết xước. Mọi thứ đều bình thường, trừ tiếng khóc hoảng loạn không có nguyên nhân và cái giờ Tý chính xác đến rợn người ấy.
Đúng một hồi dài, như mọi lần với An, Bình bỗng nín bặt. Đột ngột. Như có ai vừa bịt miệng nó lại rồi thả ra. Đứa bé mở mắt, nhìn trân trân lên xà nhà, rồi thiếp đi vì mệt, hơi thở còn nấc từng nhịp.
Cả buồng im lặng. Thím Ba làm dấu, miệng lẩm bẩm khấn vái. Mây ôm mặt khóc không thành tiếng. Tư đứng giữa buồng, bế đứa con đã ngủ yên trên tay, nhìn quanh những chùm tỏi treo đầy cửa, nhìn vòng cành dâu xanh trên đầu giường, nhìn ngọn lửa vẫn cháy đều ngoài hiên, nhìn cây cung vôi trắng toát trên ngưỡng cửa, và hiểu ra một điều tàn nhẫn. Tất cả những phòng bị mà ông dốc lòng chuẩn bị, tất cả lửa và tỏi và dâu và vôi, không hề làm cho thứ kia chùn bước. Nó vẫn đến đúng giờ, vẫn gọi con ông khóc thét ngay trước mắt những người canh giữ tỉnh táo nhất, như một lời khẳng định rằng nó không sợ bất cứ thứ gì người sống bày ra trong căn buồng này.
Đêm ấy Tư không ngủ nữa. Ông ngồi bên nôi con đến sáng, đếm từng ngày còn lại cho đến mốc một trăm, và lần đầu tiên trong đời, người thầy đồ tin vào chữ nghĩa và lễ nghi ấy bắt đầu nghĩ đến một con đường khác. Một con đường mà trưởng họ Cừ đã dặn ông không được đi. Con đường tìm đến thầy thuốc giỏi nhất bằng mọi giá, và nếu thuốc cũng không được, thì dù có phải chống lại cả họ, ông cũng sẽ tìm đến những người có thể nhìn thấy thứ mà mắt thường của ông không nhìn thấy.
Ngoài hiên, ngọn lửa trong bếp lò vẫn cháy, khói mỏng bay lên mái ngói trong đêm tĩnh, và trên mái ngói ấy, rất khẽ, rất xa, như có tiếng bước chân khập khiễng vừa đi qua rồi tan vào bóng tối, nhẹ đến mức Tư không dám chắc mình vừa nghe thấy thật hay chỉ là do nỗi sợ trong lòng ông tự sinh ra tiếng động.