Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 8: Đơn Thuốc Chưa Uống Hết
Sau đêm Bình khóc thét ở ngày thứ năm mươi, Tư không còn ngồi chờ trong căn buồng đầy tỏi và cành dâu nữa. Ông quyết định đi tìm thầy thuốc. Không phải…
Nội dung chương
Sau đêm Bình khóc thét ở ngày thứ năm mươi, Tư không còn ngồi chờ trong căn buồng đầy tỏi và cành dâu nữa. Ông quyết định đi tìm thầy thuốc. Không phải ông lang trong làng, người đã bó tay trước cái chết của An. Ông nhắm đến thầy lang giỏi nhất vùng, người ở tận trên huyện, cách làng Hạ Trạch hơn một ngày đường đi bộ và đi đò. Người ta đồn thầy lang ấy từng chữa khỏi cho con quan huyện khi đứa bé ấy đã mê man ba ngày, từng kê đơn cứu người bị rắn cắn tưởng không qua khỏi. Tư nghe danh ấy đã lâu. Lần này, ông quyết dốc hết tiền dành dụm trong nhà để mời cho được người thầy ấy về xem bệnh cho con mình, dù là bệnh chưa phát, dù người ngoài có cười ông là lo xa đến mức hoang tưởng.
Số tiền dành dụm của nhà thầy đồ không nhiều. Đó là tiền học phí học trò đóng từng đồng lẻ, tiền Mây bán thêm mớ rau, con gà ngoài vườn, tiền Tư chép thuê gia phả và viết câu đối thuê vào dịp Tết tích cóp mấy năm. Cộng lại cũng chỉ vừa đủ để lo một chuyến đi huyện mời thầy và mua thuốc quý nếu cần. Mây nghe chồng nói sẽ dốc hết số tiền ấy, nàng không ngăn. Nàng chỉ lặng lẽ mở chiếc hòm gỗ nhỏ ở đầu giường, lấy ra cả đôi bông tai bằng bạc là của hồi môn mẹ cho ngày cưới, đặt vào tay chồng.
- Mình cầm thêm cái này. Con mình quan trọng hơn mọi thứ. Nếu thiếu thì bán đi.
Tư nhìn đôi bông tai trong lòng bàn tay, cổ họng nghẹn lại. Ông không bán đôi bông tai ấy. Ông gói lại, trả vào tay vợ, và chỉ mang theo số tiền mặt dành dụm, cộng với một quyết tâm mà ông nói với vợ trước lúc lên đường.
- Tôi đi hai ngày. Mình ở nhà giữ con cho kỹ, đừng rời buồng nửa bước. Tôi về sẽ có thầy giỏi xem cho con. Lần này nhất định phải khác.
Đường lên huyện xa và vất vả. Tư đi bộ từ tờ mờ sáng, qua mấy làng, qua một bến đò ngang sông Đáy nước chảy xiết, rồi lại đi bộ trên con đường đất đỏ bụi mù. Ông đến nhà thầy lang trên huyện vào chiều ngày hôm sau, người phờ phạc vì nắng và lo lắng. Thầy lang là một ông già ngoài bảy mươi, râu tóc bạc trắng, mắt vẫn sáng, tay vẫn chắc. Ông nghe Tư kể đầu đuôi câu chuyện, từ cái chết của An đúng ngày thứ một trăm, đến những cơn khóc giờ Tý của Bình, đến cả chuyện năm vết ngón tay trên cổ đứa bé đầu mà Tư lần đầu tiên dám kể cho một người ngoài họ nghe. Thầy lang nghe rất chăm chú, không ngắt lời, không cười chê, chỉ thỉnh thoảng gật đầu và hỏi lại mấy chi tiết về giờ giấc và triệu chứng.
Nghe xong, thầy lang im lặng rất lâu, rồi nói một câu làm Tư vừa mừng vừa sợ.
- Bệnh của trẻ con nhà anh, tôi chưa xem tận mắt thì chưa dám kết luận. Nhưng anh kể triệu chứng sốt cao, co giật, tím tái, đến nhanh, đi nhanh, không có đờm, không có ho, không tiêu chảy, thì đó không giống bất cứ bệnh nhi thông thường nào trong sách thuốc tôi học. Tôi sẽ về làng với anh một chuyến, xem tận mắt đứa bé, bắt tận tay cái mạch của nó, rồi mới nói được có chữa được hay không.
Tư mừng đến mức quỳ xuống cảm ơn thầy ngay giữa sân nhà người ta. Thầy lang đỡ ông dậy, bảo người làm nghề thuốc không nhận lạy của người đang khổ, chỉ nhận tiền công xứng đáng và lời nói thật của gia chủ.
Chuyến về làng diễn ra ngay ngày hôm sau bằng xe ngựa thuê, tốn thêm một khoản không nhỏ trong số tiền mang theo. Dọc đường về, Tư ngồi đối diện thầy lang, mấy lần định hỏi thêm về những bệnh lạ ở trẻ nhỏ mà sách thuốc có ghi, nhưng lần nào thầy lang cũng chỉ lắc đầu bảo phải xem tận mắt mới nói được, nghề thuốc không đoán bệnh qua lời kể. Câu trả lời thận trọng ấy làm Tư vừa kính nể vừa thêm lo. Người thầy càng giỏi, lời nói càng ít hứa hẹn suông. Ông nhìn ra cửa xe, thấy làng Hạ Trạch dần hiện ra sau rặng tre trong nắng chiều, và thấy con đường về nhà sao mà dài, mỗi vòng bánh xe lăn qua ổ gà trên đường đất lại làm tim ông thót lên một nhịp vì sợ ở nhà con mình có chuyện trong lúc cha vắng mặt.
Thầy lang đến nhà thầy đồ vào một buổi chiều muộn, khi Bình đã được hơn bảy mươi ngày tuổi. Ông xem cho đứa bé kỹ lưỡng hơn bất cứ thầy thuốc nào trước đó. Ông bắt mạch cả hai tay, nghe hơi thở bằng ống tre áp sát ngực, xem màu sắc lòng bàn tay, lòng bàn chân, xem phản ứng của đứa bé khi có ánh sáng, khi có tiếng động. Ông hỏi Mây về ăn uống, về giấc ngủ, về những đêm khóc giờ Tý, ghi chép cẩn thận vào một cuốn sổ nhỏ mang theo người. Ông còn hỏi kỹ về ngày giờ sinh của cả hai đứa trẻ, về cách chôn cất đứa đầu, về đất nhà và hướng buồng đẻ, những câu hỏi nghe qua tưởng là chuyện tâm linh chứ không phải chuyện thuốc thang. Tư trả lời hết, không giấu một chi tiết nào, kể cả chuyện cây cung vôi và bếp lửa canh đêm. Thầy lang nghe, ghi thêm mấy dòng vào sổ, rồi im lặng nhìn đứa bé đang ngủ yên trong nôi một lúc rất lâu mới lên tiếng. Cả nhà nín thở chờ đợi phán quyết của người thầy thuốc giỏi nhất vùng.
Trước khi ra về, thầy lang còn dặn thêm một điều mà Tư ghi nhớ mãi. Ông bảo thuốc thang chỉ giữ được phần thân, còn phần vía của trẻ nhỏ thì phải giữ bằng người. Những ngày cuối trước mốc trăm ngày, người nhà không được rời đứa bé một khoảnh khắc nào, đêm phải có ít nhất hai người thức, và hễ thấy đứa bé có biểu hiện lạ thì phải bế nó đến nơi có đông người và có ánh lửa ngay, đừng để nó nằm một mình trong buồng tối dù chỉ trong chốc lát. Lời dặn ấy không có trong đơn thuốc, cũng không tính thêm tiền công, thầy lang nói như một lời dặn riêng của người già dành cho người đang khổ, rồi mới lên xe ngựa quay về huyện trong ánh chiều đã tắt.
Cuối cùng thầy lang gấp sổ lại, nói chậm rãi, từng chữ đều cân nhắc.
- Đứa bé này, về thân thể, không có bệnh gì đáng lo. Mạch tượng hơi yếu ở phần khí, người ta gọi là suy nhược nhẹ ở trẻ sơ sinh, kê đơn bồi bổ là được. Tôi sẽ kê cho ba thang thuốc bổ khí, dưỡng huyết, uống trong mười ngày, sau đó xem lại. Còn chuyện khóc đêm đúng giờ và chuyện đứa trước mất đúng ngày cữ, tôi là thầy thuốc, tôi chỉ nói được phần thuốc. Phần ngoài thuốc, tôi không dám bàn.
Tư nghe vậy, lòng chùng xuống một nửa, nhưng vẫn bám lấy nửa hy vọng còn lại. Suy nhược nhẹ. Bồi bổ là được. Ít ra thầy giỏi nhất vùng cũng không nói là vô phương. Ông trả tiền công hậu hĩnh, mua đủ ba thang thuốc quý theo đơn, trong đó có mấy vị thuốc đắt tiền phải mua ở hiệu thuốc trên huyện mang về, rồi tự tay sắc thuốc cho con theo đúng lời dặn, không sai một bước. Thuốc sắc ra đen sánh, mùi thơm nồng, đút cho Bình từng thìa nhỏ pha thêm chút đường phèn cho dễ uống. Đứa bé uống được, không nôn, ngủ ngon hơn mấy đêm liền. Những cơn khóc giờ Tý thưa dần, có đêm không khóc, có đêm chỉ ọ ẹ một lúc rồi ngủ lại. Cả nhà thở phào. Mây ôm con, cười trong nước mắt.
- Thuốc của thầy trên huyện hay thật mình ạ. Con nó đỡ khóc hẳn rồi.
Tư cũng muốn tin như thế. Ông nhìn ba thang thuốc vơi dần, nhìn con trai bú khỏe và ngủ yên, và cho phép mình hy vọng rằng lần này, bằng tiền của, bằng thuốc quý, bằng sự chạy chữa không tiếc công sức, ông đã tìm được cách giữ con ở lại. Ông thậm chí còn tính, khi uống hết ba thang này, ông sẽ lại lên huyện xin thêm ba thang nữa, dù phải bán thêm đồ trong nhà cũng cam lòng.
Nhưng niềm hy vọng ấy mong manh hơn ông tưởng. Thuốc mới uống được đến thang thứ hai, Bình mới dùng hết phân nửa liệu trình mười ngày mà thầy lang dặn, thì cuốn lịch treo trên vách đã lặng lẽ lật sang những ngày cuối cùng trước mốc một trăm. Tư đếm lại, tay run lên khi nhận ra sự thật phũ phàng mà những ngày yên ổn vừa qua đã làm ông tạm quên. Bình sinh ngày mồng bảy tháng chín. Ngày thứ một trăm của nó là ngày mười lăm tháng mười hai. Chỉ còn mấy ngày nữa. Đơn thuốc chưa uống hết, thang thuốc thứ ba còn nguyên trong gói giấy dầu trên bàn, mùi thuốc thơm nồng vẫn phảng phất trong nhà, mà ngày thứ một trăm đã đến gần như một kẻ đòi nợ không bao giờ quên hẹn, không bao giờ chậm một ngày, và cũng không bao giờ bị mua chuộc bởi bất cứ thang thuốc quý giá nào của người sống.
Đêm ấy Tư ngồi bên bàn, nhìn gói thuốc chưa mở và cuốn lịch trên vách, hai thứ đồ vật đặt cạnh nhau như hai thế giới không liên quan gì đến nhau. Một bên là nỗ lực của con người, tiền bạc, thuốc thang, chạy chữa. Một bên là một con số lạnh lùng, một trăm, cứ đến hẹn lại lên, không cần lý do, không cần giải thích. Ông ngồi như thế rất lâu, cho đến khi trong buồng, Bình cựa mình khóc một tiếng ngắn rồi lại ngủ yên, và ông biết, những ngày quyết định nhất của đời mình lại sắp bắt đầu.