Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 6: Người Trưởng Họ Đến Thăm
Hơn một năm trôi qua kể từ ngày An mất. Thời gian ở làng Hạ Trạch trôi chậm, đo bằng mùa lúa, mùa mưa, mùa giỗ chạp, chứ không đo bằng lịch tây treo trên…
Nội dung chương
Hơn một năm trôi qua kể từ ngày An mất. Thời gian ở làng Hạ Trạch trôi chậm, đo bằng mùa lúa, mùa mưa, mùa giỗ chạp, chứ không đo bằng lịch tây treo trên vách như cách Tư vẫn đếm ngày cho con. Căn nhà của thầy đồ dần có lại tiếng người. Lớp học mở lại sau ba tháng đóng cửa, ban đầu chỉ lác đác mấy học trò cũ quay lại, rồi dần đông như trước. Mây gượng dậy được, người vẫn gầy nhưng đã có thể ra vườn hái rau, nấu cơm, thỉnh thoảng còn cười khi nghe học trò ê a đọc sai một chữ nho khó. Chỉ có nấm mộ nhỏ dưới gốc ổi sau vườn là vẫn nằm đó, cỏ đã mọc xanh phủ kín, phiến gạch cũ đã ngả màu rêu, như một lời nhắc im lặng rằng căn nhà này đã từng có một đứa trẻ, và đứa trẻ ấy đã đi theo một cách không ai giải thích nổi.
Tư không bao giờ quên được giấc mơ về người đàn bà dưới giếng. Ông đã mấy lần định tìm đến nhà tổ hỏi han, nhưng mỗi lần đi qua cổng nhà tổ, nhìn cánh cổng gỗ lim đóng im ỉm và khoảng sân gạch vắng lặng phía trong, ông lại quay về. Nhà tổ họ Ngô là nơi thờ cúng chung của cả họ, do trưởng họ Ngô Văn Cừ trông giữ. Cừ là chú họ của Tư, sáu mươi lăm tuổi, người cao lớn, tiếng nói sang sảng, trong họ ai cũng nể sợ. Ông ta giữ gia phả, giữ chìa khóa nhà thờ, giữ cả cái uy của một người đại diện cho tổ tiên còn sống. Tư từ nhỏ đã kính trọng ông, nhưng cũng từ nhỏ đã cảm thấy ở người trưởng họ này có một sự kín đáo khó dò, như một cái giếng sâu không thấy đáy.
Trong hơn một năm ấy, Tư cũng âm thầm làm một việc mà ông không nói với vợ. Ông lục lại những giấy tờ cũ của cha để lại, gồm mấy quyển sách thuốc chép tay, vài tờ khế đất đã ố vàng và cuốn gia phả chép tay bọc vải điều đã sờn. Ông định bụng sẽ đọc kỹ gia phả một lượt để tìm xem trong họ có tiền lệ trẻ chết đúng ngày cữ hay không, nhưng lần nào mở ra ông cũng chỉ đọc được mấy trang đầu rồi lại gấp lại vì công việc lớp học và vì nỗi đau mỗi lần nhìn thấy tên con mình vừa được ông ghi thêm vào phần cuối sổ bằng nét mực còn mới. Tên An được ghi ngay ngắn, kèm ngày sinh ngày mất, chỉ vỏn vẹn một trăm ngày tồn tại trên cõi đời, ngắn đến mức người ghi phải dừng bút rất lâu mới viết tiếp được.
Đầu mùa hè năm sau, Mây lại có tin mừng. Nàng mang thai lần thứ hai. Tin ấy đến lặng lẽ, trong một buổi sáng nàng ra vườn hái rau bỗng buồn nôn, mặt tái đi, phải vịn vào thân ổi mới đứng vững. Bà Sen được tin, mừng đến rơi nước mắt, nhưng mừng xong thì lo ập đến ngay, lo gấp bội lần trước. Bà nắm tay con gái, giọng run run.
- Lần này phải giữ như giữ trứng mỏng, con ạ. Từ ăn uống đến đi đứng, từ giấc ngủ đến lời ăn tiếng nói, không được sơ sẩy một ly nào.
Mây gật đầu, tay vô thức đặt lên bụng còn phẳng, ánh mắt nhìn về phía nấm mộ của An dưới tán ổi. Nàng vừa mừng vì trời lại cho mình một đứa con, vừa sợ đến mức đêm ấy nàng mơ thấy mình bế một đứa bé không mặt chạy khắp làng mà không tìm được đường về nhà. Tư biết vợ sợ. Chính ông cũng sợ. Nhưng ông giấu nỗi sợ ấy vào trong, tỏ ra bình tĩnh và chắc chắn trước mặt vợ, như một người cha phải thế. Ông nói.
- Lần này tôi sẽ chuẩn bị từ đầu. Không chủ quan một ngày nào. Con mình sẽ qua được trăm ngày, mình cứ tin như thế.
Tin Mây mang thai lan ra họ hàng nhanh như gió qua lũy tre. Người trong họ kẻ mừng người lo, nhưng ai cũng tránh nhắc đến tên An trong những lời chúc tụng, như thể chỉ cần không nhắc đến thì chuyện cũ sẽ tự phai đi. Chiều hôm ấy, một chuyện hiếm có xảy ra. Trưởng họ Ngô Văn Cừ thân chinh đến thăm nhà thầy đồ. Ông ta đi bộ từ nhà tổ sang, tay chống gậy tre, mặc áo the đen, khăn xếp chỉnh tề, theo sau là một người cháu họ mang theo gói quà gồm ít đường phèn và mấy quả bưởi vườn. Cả nhà Tư bất ngờ, vội vàng dọn bàn ghế, pha nước mời trưởng họ. Mây đang mang thai nên chỉ ra chào rồi lui vào buồng. Tư ngồi tiếp chuyện với ông chú họ ở gian giữa, lòng vừa cảm kích vừa hồi hộp không rõ lý do.
Cừ hỏi han chuyện lớp học, chuyện mùa màng, rồi mới chuyển sang chuyện chính bằng một giọng chậm rãi, cân nhắc từng chữ.
- Tôi nghe tin vợ thầy lại có mang. Họ nhà ta người thì đông mà nhánh của thầy thì hiếm muộn, có thêm mụn con là phúc của cả họ. Tôi đến mừng cho vợ chồng thầy.
Tư chắp tay cảm ơn. Cừ nhấp ngụm nước, nhìn quanh căn nhà nghèo một lượt, rồi hạ giọng, nói một câu mà Tư nghe xong thì sống lưng lạnh đi dù ông ta nói bằng giọng rất đỗi bình thường.
- Chỉ có điều, chuyện nhà này, nhất là chuyện đứa trước, không được đồn ra ngoài cho thiên hạ bàn tán. Trẻ chết yểu là chuyện nhà nào cũng có, nói nhiều sinh điều tiếng, ảnh hưởng đến danh dự cả họ. Thầy là người có chữ, chắc thầy hiểu. Có chuyện gì thì đóng cửa bảo nhau trong họ, đừng để người ngoài họ xía vào, nhất là đừng có mời thầy cúng thầy pháp ở đâu về làm ầm ĩ lên. Họ Ngô ta thờ tổ tiên đàng hoàng, không theo thói mê tín dị đoan làm trò cười cho làng xóm.
Lời nói nghe qua thì hợp tình hợp lý, là lời của một trưởng họ lo cho danh dự dòng tộc. Nhưng Tư, sau hơn một năm sống với giấc mơ về cái giếng và hình ảnh năm vết ngón tay, nghe những lời ấy lại thấy một lớp nghĩa khác ẩn bên dưới. Ông cảm thấy người trưởng họ này không chỉ lo danh dự. Ông ta đang sợ một điều gì đó bị khui ra. Ông ta đang dặn dò, mà cũng là đang cảnh cáo, rằng có những chuyện trong họ này phải được chôn kín.
Tư đáp lại bằng giọng lễ phép nhất có thể.
- Thưa chú, vợ chồng cháu chỉ mong con sinh ra được khỏe mạnh, qua được trăm ngày bình an. Cháu không dám làm điều gì ảnh hưởng đến danh dự họ nhà.
Cừ gật đầu hài lòng, đứng dậy ra về. Tư tiễn ông ta ra cổng. Nhưng khi đi ngang qua sân sau, qua lối nhỏ dẫn ra vườn, Cừ bỗng dừng bước. Ông ta không đi tiếp ra cổng chính mà rẽ hẳn sang phía nhà tổ theo lối tắt sau làng, và Tư, vì tiễn khách nên đi theo sau mấy bước, đã nhìn thấy một cảnh mà sau này ông kể lại là khoảnh khắc làm thay đổi hoàn toàn cách ông nhìn người trưởng họ của mình.
Trên lối tắt ấy, từ xa có thể nhìn thấy khoảng sân sau của nhà tổ và cái giếng cũ nằm sát tường hậu. Cừ dừng lại ở một chỗ vắng, tưởng không có ai theo sau, và đứng nhìn rất lâu xuống miệng giếng sau nhà tổ. Ông ta đứng im như một pho tượng, gậy tre chống xuống đất, đầu hơi cúi, ánh mắt dán chặt vào phiến đá đậy miệng giếng và khoảng đất ẩm quanh thành giếng. Ông ta đứng lâu đến mức người cháu họ mang quà phải lên tiếng gọi khẽ, ông ta mới giật mình quay lại, sắc mặt thoáng biến đổi khi thấy Tư đứng cách đó không xa.
- Chú ngắm vườn tược nhà tổ một chút thôi. Già rồi, đi đâu cũng nhớ đất tổ.
Cừ nói chữa, rồi rảo bước đi nhanh hơn, không nhìn lại lần nào nữa. Tư đứng lại trên lối tắt, nhìn theo bóng áo the đen của người trưởng họ khuất dần sau rặng tre, rồi quay đầu nhìn về phía cái giếng sau nhà tổ đang nằm im lìm trong nắng chiều, phiến đá đậy trên miệng giếng xám xịt và nặng nề.
Ông bỗng nhớ lại giấc mơ đêm sau đám tang An. Người đàn bà đứng dưới giếng khóc. Và giờ đây, người giữ nhà tổ, giữ gia phả, giữ mọi bí mật của họ Ngô, lại đứng nhìn xuống miệng giếng ấy bằng ánh mắt của một người đang canh giữ một điều gì đó không muốn ai đào lên.
Tư quay về nhà, vào buồng nắm tay vợ đang nằm nghỉ, nói những lời trấn an mà chính ông cũng không tin trọn vẹn. Đêm ấy ông không ngủ được. Ông nằm nghe tiếng vợ thở đều bên cạnh, nghe tiếng gió qua tán ổi sau vườn, và nghĩ mãi về ánh mắt của Cừ khi nhìn xuống giếng. Một người canh nhà tổ thì nhìn giếng là chuyện thường. Nhưng không ai nhìn một cái giếng cạn dùng để đậy đá bỏ không bằng ánh mắt sợ hãi và canh giữ như thế, trừ khi dưới lòng giếng ấy có một thứ mà người ta đã chôn cùng với nước và bóng tối, và đã thề với lòng sẽ không bao giờ để ai đào lên nữa.
Ngoài vườn, dưới gốc ổi, nấm mộ của An nằm lặng trong nắng tắt. Trong bụng Mây, một sinh linh mới đang lớn lên từng ngày, hướng về một cái mốc trăm ngày mà cả nhà vừa mong đợi vừa sợ hãi. Và ở cuối làng, sau cánh cổng gỗ lim đóng im ỉm của nhà tổ, một cái giếng bị đậy phiến đá vẫn nằm đó, giữ kín một bí mật đã nửa thế kỷ, chờ đến ngày có người dám cúi xuống nhìn thẳng vào lòng giếng tối đen của nó.