Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 2: Trăm Ngày Mới Chắc Chân
Từ ngày có bé An, căn nhà ba gian của thầy đồ Tư như được thắp thêm một ngọn đèn không bao giờ tắt. Tiếng khóc trẻ con, tiếng ru ầu ơ của Mây, tiếng cười…
Nội dung chương
Từ ngày có bé An, căn nhà ba gian của thầy đồ Tư như được thắp thêm một ngọn đèn không bao giờ tắt. Tiếng khóc trẻ con, tiếng ru ầu ơ của Mây, tiếng cười khẽ của bà Sen khi cháu ngoại đạp chân đạp tay trong chậu nước ấm, tất cả làm cho những buổi chiều dạy học của Tư cũng trở nên rộn ràng hơn. Học trò đến lớp không còn dám đùa nghịch ồn ào như trước. Chúng ngồi ngay ngắn trên những chiếc ghế dài kê ngoài hiên, ê a đọc sách, thỉnh thoảng lại lén nhìn vào buồng trong, nơi chiếc nôi tre đung đưa nhè nhẹ theo nhịp tay của người mẹ.
An lớn nhanh ngoài mong đợi của cả nhà. Đứa bé sinh ra đỏ hỏn bao nhiêu thì nay, mới hơn một tháng, đã trắng trẻo, bụ bẫm bấy nhiêu. Hai má phúng phính, cổ tay có ngấn, mỗi lần bú no lại nắm chặt ngón tay cha mà ngủ. Tư vốn là người nghiêm, trước mặt học trò chưa bao giờ cười to, vậy mà cứ hết giờ dạy là ông lại vội rửa tay, vào buồng bế con, vụng về nâng niu như nâng một vật bằng sứ mỏng. Mây nằm trên giường nhìn chồng con, người còn yếu sau sinh nhưng ánh mắt lúc nào cũng dịu dàng. Bà nói đùa.
- Thầy bế con khéo hơn cầm bút rồi đấy.
Tư cười, đáp lại bằng giọng cố giữ vẻ nghiêm nghị mà không giấu được niềm vui.
- Bút cầm sai thì sửa được. Con bế sai thì nó khóc cho cả làng nghe.
Bà Sen ở lại hẳn nhà con gái để phụ chăm cháu. Bà quán xuyến mọi việc kiêng cữ theo lệ xưa một cách nghiêm ngặt. Cửa buồng không được mở toang khi trời tối. Gió lùa phải che chắn. Người lạ mới đi đám ma về không được vào thẳng buồng đẻ. Cành dâu nhỏ được treo ở đầu giường. Bát nước gừng luôn để sẵn trên bếp. Tư nghe mẹ vợ dặn dò từng điều, không bỏ sót điều nào, dù có những điều ông chưa thật hiểu căn nguyên. Sau đêm nghe tiếng chân trên mái, ông không còn dám coi nhẹ bất cứ lệ nào nữa.
Tuy vậy, những ngày đầu làm cha mẹ trôi qua êm đềm đến mức nỗi lo đêm ấy dần phai nhạt. Tiếng chân khập khiễng không xuất hiện lại. Đêm nào An cũng ngủ một mạch đến gần sáng, chỉ ọ ẹ khi đói. Hàng xóm sang thăm, ai cũng khen đứa bé có tướng khỏe mạnh, tiếng khóc to, bú khỏe, ngủ ngoan. Cụ đồ già ở xóm trên sang chơi, vuốt râu nhìn đứa bé rồi bảo.
- Trẻ thế này là có phúc khí. Nhà thầy từ nay mở vận rồi.
Tư nghe mà mừng, nhưng bà Sen thì không mừng vội. Một buổi chiều, khi Mây đang cho con bú trong buồng, bà kéo con rể ra hiên, giọng hạ thấp như sợ trong nhà có tai nghe.
- Thầy đừng nghe người ta khen mà chủ quan. Đàn bà đẻ, trẻ mới sinh, phải qua được trăm ngày mới coi như chắc chân. Trước trăm ngày, vía nó còn dại, thân nó còn non, mẹ nó còn rỗng người. Lệ làng ta từ xưa vẫn thế. Đầy tháng chỉ là cho biết mặt họ hàng. Đầy cữ trăm ngày mới là cái mốc giữ được người.
Tư gật đầu. Ông đã nghe câu ấy từ khi còn nhỏ, nghe như một câu nói cửa miệng của các bà các mẹ. Nhưng lần này, khi chính mình làm cha, ông mới thấy câu nói ấy nặng. Trăm ngày. Ông thầm đếm. An sinh ngày mồng ba tháng hai. Vậy phải đến giữa tháng năm mới qua được mốc ấy. Ba tháng tưởng ngắn mà sao, khi có một sinh linh bé nhỏ phải giữ gìn từng bữa bú giấc ngủ, lại thấy dài đằng đẵng.
- Vậy trong trăm ngày này, nhà mình phải kiêng những gì, mẹ cứ dặn cho thật kỹ. Con làm hết.
Bà Sen nhìn con rể, ánh mắt vừa thương vừa nghiêm.
- Kiêng nói gở trước mặt trẻ. Kiêng để trẻ khóc dạ đề không rõ cớ mà bỏ mặc. Kiêng cho người vía nặng bế trẻ lúc nửa đêm. Và nhất là kiêng tắt đèn buồng khi chưa qua cữ. Đèn ấy không phải chỉ để sáng nhà. Nó để cho thứ ngoài kia biết nhà này còn người thức, còn người canh.
Từ hôm ấy, Tư lập thành nếp. Mỗi tối, sau khi học trò về hết, ông tự tay châm đèn, kiểm tra cửa nẻo, nhìn lại cây cung vôi trên ngưỡng cửa buồng đã mờ đi vì người qua lại, và dặn vợ nếu đêm con khóc khác thường thì phải gọi ông ngay. Mây nghe chồng dặn, vừa buồn cười vừa cảm động. Nàng biết chồng mình lo, nhưng nàng tin con mình khỏe, tin những ngày bình yên này sẽ kéo dài mãi.
Một buổi sáng, Tư còn cẩn thận mang chuyện trăm ngày hỏi lại ông Từ đình khi tình cờ gặp nhau ở giếng đình. Ông Từ đã ngoài bảy mươi, người gầy, râu bạc, quanh năm trông coi đình làng và những việc cúng tế chung. Nghe thầy đồ hỏi, ông Từ không cười, cũng không gạt đi như chuyện đàn bà mê tín. Ông chỉ nhìn về phía nhà tổ họ Ngô ở cuối làng, ánh mắt trầm xuống, rồi nói chậm rãi.
- Trăm ngày là ngưỡng người và ngưỡng vía gặp nhau. Qua được thì đứa trẻ mới thật ở lại với nhà mình. Nhà thầy họ Ngô, lại càng phải giữ cho kỹ.
Tư gặng hỏi vì sao lại nói riêng nhà họ Ngô, ông Từ chỉ lắc đầu, bảo mình già rồi, nhiều chuyện nghe từ đời trước, không dám nói bừa, rồi chống gậy đi thẳng vào đình. Câu nói lửng lơ ấy bám theo Tư suốt dọc đường về. Ông không kể lại cho vợ, sợ nàng lo, nhưng từ hôm ấy ông đếm ngày càng kỹ hơn, mỗi tối lại lấy bút ghi một vạch nhỏ lên mép lịch, như người lính gác đếm từng đêm trực của mình.
Quả thật An khỏe thật. Sang tháng thứ hai, đứa bé đã biết hóng chuyện. Ai cúi xuống nôi nói chuyện là nó toét miệng cười, hai tay khua khoắng. Sang tháng thứ ba, nó lẫy được, ngẩng đầu nhìn quanh, tiếng cười khanh khách làm cả nhà ai cũng bật cười theo. Lớp học của Tư đông trở lại. Có phụ huynh còn mang đến biếu thầy khi thì nải chuối, khi thì mớ rau vườn, nói là mừng thầy có quý tử nối dõi. Tư nhận tấm lòng, nhưng trong lòng ông vẫn giữ một mối dè dặt không nói ra. Ông đã bắt đầu đếm ngày một cách vô thức. Mỗi tối trước khi ngủ, ông lại nhìn lịch treo trên vách, thầm tính xem con mình đã được bao nhiêu ngày.
Rồi điều lạ bắt đầu vào một đêm cuối tháng tư, khi An đã ngoài tám mươi ngày tuổi. Đêm ấy trời oi, không một ngọn gió. Mây vừa cho con bú xong, đặt con xuống nôi, thiu thiu ngủ thì đúng lúc trống canh điểm giờ Tý, An bỗng khóc thét lên. Không phải tiếng khóc đói, không phải tiếng khóc ướt tã. Đó là tiếng khóc dựng đứng, sắc và gắt, như thể đứa bé vừa bị ai véo mạnh một cái trong bóng tối. Mây vùng dậy bế con, dỗ thế nào cũng không nín. Tư chạy vào, bế con đi đi lại lại trong buồng, hát ru bằng giọng vụng về, đứa bé vẫn khóc đến tím mặt, hai tay nắm chặt, mắt nhắm nghiền.
Bà Sen nghe tiếng cũng chạy sang, sờ trán cháu thấy mát, sờ bụng thấy mềm, mở tã thấy sạch. Bà bế cháu áp vào ngực, vỗ về một lúc rất lâu. Kỳ lạ thay, khóc đúng một hồi dài, chừng tàn một nén hương, An bỗng nín bặt, như thể có ai vừa bấm nút tắt tiếng khóc của nó. Đứa bé mở mắt, nhìn trân trân lên xà nhà một lúc, rồi thiếp đi vì mệt, hơi thở vẫn còn nấc từng nhịp nhỏ.
Cả nhà nhìn nhau, không ai nói gì. Mây ôm con vào lòng, tay còn run.
- Chắc nó mọc răng nên quấy thôi mình ạ.
Tư không đáp. Ông nhìn đồng hồ treo tường, nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen. Giờ Tý. Ông ghi nhớ chi tiết ấy trong đầu một cách bất an.
Đêm hôm sau, chuyện lặp lại y hệt. Đúng giờ Tý, An đang ngủ say bỗng khóc thét. Lần này Tư đã thức sẵn. Ông ngồi bên nôi từ đầu canh, sách để trên đùi mà không đọc được chữ nào. Khi tiếng khóc bật lên, ông là người đầu tiên bế con. Ông kiểm tra khắp người con, không vết cắn, không vết xước, không sốt. Đứa bé khóc như bị hoảng sợ tột độ bởi một thứ gì đó mà người lớn không nhìn thấy. Mắt nó nhắm tịt, nhưng đầu nó cứ ngoẹo về phía cửa buồng, như thể nó cảm nhận được thứ gì ở ngoài ấy. Tư bế con quay lưng về phía cửa, tiếng khóc dịu đi đôi chút, nhưng vẫn kéo dài đúng một hồi rồi mới nín bặt đột ngột như đêm trước.
Đêm thứ ba cũng vậy. Đêm thứ tư cũng vậy. Cứ đúng giờ Tý, không sớm một khắc, không muộn một khắc, An khóc thét một hồi rồi nín bặt.
Bà Sen không còn giữ vẻ bình thản nữa. Bà lấy tro bếp rắc thêm quanh chân giường, treo thêm cành dâu, và dặn con gái không được ngủ say quá giấc Tý. Bà lẩm bẩm.
- Khóc dạ đề thì không đúng giờ thế này đâu. Đúng giờ như có người gọi nó vậy.
Tư ngồi ngoài hiên sau một đêm thức trắng nữa, nhìn trời chuyển sang màu xám của buổi sớm. Trong nôi, An đã ngủ yên, gương mặt thiên thần không còn dấu vết gì của cơn hoảng loạn nửa đêm. Nhưng Tư biết, từ đêm nay, ông không thể tự an ủi mình bằng hai chữ mọc răng hay quấy khóc thông thường được nữa.
Ông lấy cuốn lịch, đếm lại từng ngày từ ngày con chào đời, và khi ngón tay ông dừng lại ở con số đã qua, một nỗi lạnh lẽo chạy dọc sống lưng. Con ông sắp chạm đến ngày thứ một trăm, và những cơn khóc đúng giờ Tý kia, đêm nào cũng đều đặn như một chiếc đồng hồ vô hình, đang đếm ngược cùng với ông.