Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 50: Cây Ổi Ra Hoa
Ngày mùng chín tháng sáu năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, nhà thầy đồ Tư làm thôi nôi cho Khang. Một năm trước, cũng ngày này, đứa bé ra đời trong…
Nội dung chương
Ngày mùng chín tháng sáu năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, nhà thầy đồ Tư làm thôi nôi cho Khang.
Một năm trước, cũng ngày này, đứa bé ra đời trong một căn buồng mà cả nhà nhìn nhau bằng ánh mắt vừa mừng vừa sợ, vì giữa trán nó có một vết bớt đen hình chữ Oan. Một năm sau, sân nhà Tư đầy tiếng người. Họ hàng họ Ngô đến, dân làng đến, học trò cũ và học trò mới đến cùng cha mẹ chúng. Bà Sen khỏe hơn, ngồi ở gian ngoài đón khách. Bà Hai Lựu đến sớm nhất, mang theo một chiếc áo nhỏ tự tay may cho đứa bé bà đã đỡ ra trong một ngày nắng tháng sáu đầy lo âu. Thầy Mùi từ làng bên sang, mang một gói quà nhỏ và ở lại ăn cơm như một người thân trong nhà.
Khang tròn một tuổi, khỏe mạnh, má đầy, tóc đen, trán nhẵn không một dấu vết. Nó đã biết vịn ghế đứng lên, biết ê a gọi những tiếng chưa rõ, biết cười to khi cha nó giả vờ giấu mặt sau chiếc quạt rồi hiện ra. Nó mặc chiếc áo mới bà Hai may, ngồi giữa chiếu trong mâm thôi nôi bày những vật chọn nghề theo lệ làng: một quyển sách nhỏ, một cây bút, một chiếc thước của cha, một nắm thóc, một đồng xu và một chiếc lược gỗ nhỏ. Người lớn vây quanh, ai cũng hồi hộp một cách vui vẻ, thứ hồi hộp bình thường của một gia đình làng quê trong ngày thôi nôi, không còn bóng dáng của nỗi sợ đã bao phủ nhà này suốt những năm trước.
Khang bò qua nắm thóc, qua đồng xu, dừng lại ở cây bút một lúc rồi nắm lấy quyển sách nhỏ của cha nó, đưa lên miệng gặm. Cả sân cười ồ lên. Tư cũng cười. Ông không coi đó là điềm báo gì lớn lao. Một đứa trẻ nắm lấy sách trong ngày thôi nôi là một hình ảnh đẹp để người lớn mừng với nhau, thế thôi. Điều ông thật sự mừng nằm ở chỗ đứa bé ấy đang ở đây, đang gặm sách, đang sống một đời bình thường mà ba anh nó không được sống.
Mây bế con lên sau lễ chọn, bà đã khác hẳn người đàn bà suy kiệt của một năm trước. Bà vẫn gầy, vẫn có những sợi bạc trên tóc không thể lấy lại, nhưng mắt bà sáng, tay bà vững khi bế con, và tiếng cười của bà trong sân hôm ấy là tiếng cười của một người mẹ đã đi qua mất mát mà không để mất mát lấy đi nốt phần đời còn lại của mình. Bà nói với mấy người đàn bà trong họ:
- Tôi không quên ba đứa trước đâu. Quên làm sao được. Nhưng tôi học được một điều là nhớ con đã mất không có nghĩa là không được mừng cho đứa còn sống. Thằng Khang nó cười một tiếng là tôi mừng một tiếng, thay cho cả những tiếng cười mà các anh nó không kịp cười trong nhà này.
Trong năm qua, nhà Tư đã sống những ngày bình thường mà trước đây họ không dám mơ tới. Khang qua mùa đông đầu tiên không một cơn sốt lạ. Nó mọc răng, sốt mọc răng như mọi đứa trẻ khác, làm cha mẹ thức một đêm rồi thôi, thứ sốt bình thường mà Mây vừa trông con vừa cười vì mừng. Lớp học của Tư đông dần, có cả con của những nhà từng xa lánh ông. Ngày giỗ đầu tiên của Gấm theo lịch cúng mới của họ được tổ chức ở nhà tổ vào đầu năm, nhỏ và trang trọng, Cừ tự tay đọc tên bà trong danh sách người được cúng, Tư mang Khang đến thắp một nén hương mà đứa bé cầm chưa vững, phải nhờ cha giữ tay. Bà lão mù họ Tạ vẫn sống yên trong nhà cháu mình, và mỗi lần có người đến thăm, bà lại hỏi tên cô Gấm đã được đọc trong ngày giỗ chưa, rồi gật đầu nói bà không còn gì phải giữ trong bụng nữa.
Tư cũng đã trở lại giếng sau nhà tổ một lần cùng Cừ. Sau khai quật, giếng được lấp lại một phần và xây miệng mới, nước trong hơn, người trong họ dùng nước ấy tưới vườn như một cái giếng bình thường của một ngôi nhà bình thường. Không ai còn đậy phiến đá lên nó nữa. Tư đứng bên miệng giếng mới, nhìn xuống mặt nước phản chiếu trời chiều, và không thấy người đàn bà nào khóc trong đó. Ông chỉ thấy mặt mình, già hơn, và mặt của Cừ bên cạnh, hai người cháu của cùng một nhà đã cùng nhau mở ra và lấp lại một nơi chôn giấu sự thật bằng cách tử tế nhất mà họ có thể làm được ở tuổi mình.
Những điều ấy đi qua trong đầu Tư khi ông nhìn sân nhà đầy khách trong ngày thôi nôi. Ông biết đời sống không vì một buổi cải táng mà hết khổ. Ruộng vẫn phải cày, học trò vẫn có đứa nghèo phải bỏ học đi làm, Mây vẫn có những đêm tỉnh dậy gọi tên ba đứa con đã mất trong mơ. Nhưng có một thứ đã đổi hẳn và không quay lại được nữa: nhà này không còn sống trong im lặng. Họ nói tên người chết. Họ nhận lỗi của người sống. Họ dạy trẻ con bằng sự thật thay vì bằng lời dọa ma.
Buổi chiều, sau khi khách đã về gần hết, Tư bế Khang ra nghĩa trang dòng họ.
Mây đi cùng chồng con. Bà mang theo một bó hoa trắng và mấy nén hương. Cừ cũng ra nghĩa trang sau đó một lúc, mang theo chiếc hộp gỗ đựng lược sừng để đặt lại ở nhà tổ sau khi cho vợ chồng Tư xem một lần nữa, như một lời nhắc rằng câu chuyện này sẽ được giữ lại, không bị giấu đi nữa. Ông Từ đình mở cổng nghĩa trang cho cả nhà, rồi lặng lẽ đứng ở xa để họ có một khoảng riêng.
Mộ của Gấm nằm cạnh mộ cụ Hoành, đất đã xanh cỏ non, bia đá đã ngả màu thời gian một chút sau gần một năm mưa nắng. Trước mộ có một bát hương nhỏ mà người trong họ thay nhau thắp vào ngày giỗ và ngày rằm. Gấm không còn là một cái tên mới viết lại trên giấy nữa. Cô đã có một chỗ trong nghĩa trang, một ngày giỗ trong lịch cúng của họ, một câu chuyện được kể lại cho con cháu, bắt đầu bằng tên cô và kết thúc bằng lời nhận lỗi của dòng họ.
Tư đặt Khang đứng vịn vào tay mình trước mộ. Đứa bé nhìn bó hoa trắng, nhìn khói hương, rồi nhìn cha như chờ một câu chuyện.
Tư nói với con, giọng chậm và rõ, như ông vẫn nói với học trò khi dạy chúng một bài đầu tiên:
- Đây là mộ bà Gấm, con ạ. Bà là vợ của cụ tổ nhà mình, ngày xưa bà ở trong nhà tổ, bà mất dưới cái giếng sau nhà khi bà mới mười chín tuổi. Người ta quên bà lâu lắm. Quên đến mức nhà mình mất nhiều người mới nhớ ra phải đi tìm bà về. Con sinh ra với một dấu trên trán là vì chuyện quên ấy. Nay bà đã về nhà rồi. Tên bà ở trong sách rồi. Mộ bà ở đây rồi. Con lớn lên, cha sẽ kể lại hết cho con nghe, không giấu một đoạn nào, để con biết con được sống là nhờ nhiều người đã dám nói thật.
Khang không hiểu lời cha. Nó chỉ ê a một tiếng, đưa tay với theo làn khói hương đang bay lên. Mây thắp hương, cắm vào bát trước mộ, rồi cúi lạy. Bà lạy người đàn bà từng đến lấy mạng con mình trong đêm trăm ngày bằng một cái lạy bình tĩnh và đầy đủ, không còn sợ hãi, cũng không còn oán giận. Khi bà ngẩng lên, mắt bà ướt, nhưng mặt bà yên.
- Bà Gấm, bà nói khẽ. Tôi là mẹ của bốn đứa trẻ nhà này. Ba đứa đã đi, một đứa còn ở đây nhờ bà đã nhận lễ của họ. Tôi không nói tôi quên được những đêm tôi mất con. Nhưng tôi cũng biết bà mất con trước chúng tôi rất lâu, và bà mất cả tên mình nữa. Nay bà về nhà rồi, bà yên nghỉ đi. Trẻ con nhà này từ nay, bà để cho chúng nó lớn.
Gió chiều từ phía sông Đáy thổi qua nghĩa trang, làm cỏ non trên mộ Gấm lay nhẹ và khói hương tản ra thành một vệt mỏng trong nắng cuối ngày. Không có tiếng thì thầm nào đáp lại. Không có tiếng chân nào trên đất. Chỉ có tiếng chim gọi nhau về tổ ở những cây cao cuối làng và tiếng Khang ê a trong tay cha.
Cừ đứng lại bên mộ một lúc sau khi vợ chồng Tư đã lạy xong. Ông ta thắp thêm một nén hương của riêng mình, nói một câu nhỏ mà Tư nghe được:
- Cô ở đây yên nhé. Từ nay ngày giỗ có tên cô đàng hoàng. Tôi còn sống ngày nào, tôi còn nhắc con cháu ngày ấy.
Đó không phải là một lời chuộc hết được nửa thế kỷ, nhưng nó là lời của người đã từng khóa cổng, nay tự nguyện đứng gác cho một cái tên được ở lại. Tư không nói gì thêm. Ông bế Khang lên, để đứa bé nhìn mộ Gấm một lần cuối trong ánh chiều, rồi cả nhà cùng đi ra cổng nghĩa trang.
Cả nhà trở về khi trời sắp tối. Đến cổng nhà, Tư dừng lại nhìn vào sân. Gốc ổi sau vườn, nơi ba đứa con đầu của ông nằm, đã được ông và họ hàng xây lại ngay ngắn trong mùa xuân vừa qua. Ba nấm mộ nhỏ không còn là những mô đất lặng lẽ phủ lá nữa. Chúng được đắp lại thành ba ngôi mộ con xinh xắn, chung một tấm bia đá giản dị do chính Tư viết chữ để thợ khắc theo. Trên bia chỉ ghi ba chữ mà bất cứ ai đi qua cũng hiểu được tình thương và mất mát của một gia đình:
Ba anh em.
Và trên những cành cao nhất của cây ổi già đã chứng kiến ba lần chôn cất và một lần sinh nở trong sợ hãi, hoa ổi nở trắng, từng chùm nhỏ, thơm nhẹ trong ánh chiều, lần đầu tiên sau nhiều năm cây ra hoa nhiều đến thế.