Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 48: Về Nghĩa Trang Dòng Họ
Ngày hai mươi hai tháng chín, họ Ngô đưa Đinh Thị Gấm về nghĩa trang dòng họ. Buổi sáng trong và mát sau nhiều ngày mưa và nắng gắt xen nhau. Con đường…
Nội dung chương
Ngày hai mươi hai tháng chín, họ Ngô đưa Đinh Thị Gấm về nghĩa trang dòng họ.
Buổi sáng trong và mát sau nhiều ngày mưa và nắng gắt xen nhau. Con đường từ nhà tổ ra nghĩa trang ở cuối làng được quét sạch. Người làng đứng hai bên đường, không phải để xem một đám tang lạ, mà để tiễn một người đàn bà của làng họ đã đi lạc khỏi nhà mình hơn nửa thế kỷ. Chiếc tiểu gỗ đựng hài cốt Gấm được đặt trên một chiếc kiệu nhỏ phủ vải điều, bốn người đàn ông trong họ khiêng, đi đầu là Cừ với nén hương cháy trong tay, đi sau là Tư và thầy Mùi, rồi đến các cụ già, đàn bà và trẻ con của họ Ngô.
Gấm lúc sống về nhà này bằng kiệu hoa của một người vợ lẽ. Lúc chết, cô bị mang ra bãi tha ma trong một đêm vội vã không kèn không trống. Nay cô trở về nghĩa trang dòng họ cũng bằng kiệu, chậm rãi, giữa ban ngày, trước mặt cả làng. Tư đi sau kiệu, nhìn tấm vải điều lay nhẹ theo nhịp bước của người khiêng, và nghĩ rằng một dòng họ sửa sai không phải bằng một câu nói. Họ sửa bằng chính đôi chân của con cháu, khiêng người ta về đúng chỗ, đặt người ta xuống đúng hàng, và đọc tên người ta lên đúng lúc.
Nghĩa trang dòng họ Ngô nằm trên một gò đất cao, nhìn ra cánh đồng và dòng sông Đáy xa xa. Mộ của cụ Ngô Đình Hoành đã có ở đó từ năm một nghìn chín trăm lẻ một, một ngôi mộ lớn hơn những mộ xung quanh, bia đá ghi tên và năm mất. Bên cạnh mộ cụ, một huyệt mới đã được đào từ chiều hôm trước, đúng vị trí dành cho người vợ. Không phải ở góc khuất. Không phải ở hàng dưới dành cho người ở. Huyệt của Gấm nằm ngang hàng với mộ cụ Hoành, chỉ nhỏ hơn một chút theo lệ xưa, nhưng cùng một hàng, cùng một hướng nhìn ra sông.
Khi kiệu đến nơi, thầy Mùi làm lễ hạ huyệt. Cừ đọc tên Gấm một lần nữa trước mộ phần, giọng ông ta đã khàn hẳn sau mấy ngày, nhưng ông ta đọc đủ họ tên, đủ năm mất, và nói rõ: hôm nay họ Ngô cải táng bà Đinh Thị Gấm, vợ của cụ tổ Ngô Đình Hoành, từ giếng sau nhà tổ về nhập nghĩa trang dòng họ, để từ nay hương khói có nơi, con cháu có chỗ mà thắp hương nhận lỗi.
Chiếc vòng bạc được đặt vào trong tiểu trước khi đậy nắp, nằm cạnh phần xương cổ tay như khi nó được tìm thấy dưới đáy giếng. Chiếc lược sừng thì không chôn theo. Theo lời thầy Mùi và ý của Tư, lược sẽ được giữ lại tại nhà tổ, đặt trong một hộp gỗ nhỏ bên cạnh gia phả, như một vật nhắc nhở đời sau. Một vật theo người chết về mộ. Một vật ở lại với người sống để họ không quên.
Tiểu gỗ được hạ xuống huyệt bằng dây, chậm và đều. Đất phủ lên từng lớp. Người trong họ mỗi người một nắm đất đầu tiên, không ai tranh, không ai né. Cừ là người thả nắm đất đầu tiên, tay ông ta run đến mức đất rơi một nửa ra ngoài trước khi xuống huyệt. Tư thả nắm đất thứ hai. Ông nghĩ đến ba lần mình tự tay lấp đất lên huyệt của con dưới gốc ổi. Đất lần này cũng nặng như thế, nhưng ý nghĩa của nó khác hẳn. Đất lấp lên con ông là đất của mất mát. Đất lấp lên mộ Gấm là đất của việc đưa một người về nhà.
Bia mộ của Gấm đã được khắc sẵn từ hôm qua, do một người thợ đá trong tổng làm gấp theo lời dặn của Cừ. Bia không cầu kỳ. Trên bia ghi tên Đinh Thị Gấm, năm mất một nghìn tám trăm tám mươi tư, và một dòng nhỏ: cải táng nhập mộ họ Ngô, tháng chín năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu. Khi bia được dựng lên và đất quanh mộ được nện chặt, mấy người đàn bà trong họ đặt lên mộ một bó hoa trắng hái trong vườn nhà tổ. Không ai dặn họ hái hoa. Họ tự làm, như một việc đáng lẽ phải được làm từ rất lâu rồi.
Trên đường đưa tang, Tư gặp mấy học trò cũ đứng bên ngõ. Chúng đã bị cha mẹ rút khỏi lớp học của ông trong những tháng nhà ông bị họ hàng cô lập. Nay chúng đứng nhìn đoàn người đi qua, đứa lớn nhất cúi đầu chào thầy mà không dám nói to. Tư gật đầu đáp lại. Ông không trách chúng, cũng không trách cha mẹ chúng. Cả làng này đã sống nhiều tháng trong sợ hãi và lời đồn. Việc đưa Gấm về nghĩa trang giữa ban ngày, với trưởng họ đi đầu đoàn, sẽ làm được cho nhà ông một điều mà không lời cãi nào làm được: từ nay, chuyện nhà thầy đồ không còn là chuyện của một nhà bị ma ám giấu trong buồng tối. Nó là chuyện của cả họ, đã được cả họ nhận, đã được cả làng chứng kiến.
Ở nghĩa trang, khi huyệt đã đào xong và chờ hạ tiểu, một cụ già trong họ bỗng nói khẽ với Tư:
- Đời tôi, đây là lần đầu tôi thấy một đám cải táng mà người sống xin lỗi người chết nhiều hơn là khóc người chết.
Tư đáp:
- Vì người chết này chờ lời xin lỗi lâu hơn chờ tiếng khóc, cụ ạ.
Cụ già gật đầu, không nói thêm. Gió từ phía sông thổi qua gò đất, làm những bó hoa trắng trên các mộ xung quanh lay nhẹ. Xa xa, tiếng chuông đình làng ngân một hồi ngắn, không phải chuông báo việc làng, chỉ là ông Từ đình tự tay gióng lên mấy tiếng khi đoàn đưa tang ra khỏi nhà tổ, như một cách của làng nhận biết rằng hôm nay có một người trở về.
Buổi chiều, khi đoàn người trở về nhà tổ, một mâm cơm cúng nhỏ được dọn trong gian thờ. Tên của Gấm được đọc cùng các tên khác trong họ khi Cừ thắp hương, ở đúng vị trí của một người vợ của đời trước. Không ai còn gọi cô là người đàn bà chết giếng nữa. Trong gian thờ hôm ấy, cô là bà Gấm, là một người của nhà này.
Tư về đến nhà mình khi trời đã nhá nhem. Ông vào buồng, nơi Mây đang ngồi bên giường với Khang. Cả ngày bà đã nghe tin cải táng qua từng người chạy đi chạy lại báo về. Khi Tư bước vào, bà ngẩng lên, chưa hỏi một câu nào về lễ, chỉ nói:
- Anh về rồi à. Con nó chiều nay hạ sốt dần. Bà Hai vừa đo bằng tay, nói người nó mát hơn mọi hôm.
Tư đến bên giường, đặt tay lên trán con. Mát hơn thật. Không còn nóng rực như những ngày trước. Khang ngủ yên, hơi thở đều, không khò khè trong cổ nữa. Môi nó đã hồng trở lại một chút. Nó ngủ như một đứa trẻ bình thường sau cơn ốm, thỉnh thoảng cựa mình, nắm lấy ngón tay mẹ rồi lại buông ra trong mơ.
Đêm ấy, cả nhà thức đến khuya theo thói quen của những ngày canh sốt, nhưng không còn ai phải thay khăn liên tục. Bà Sen ngủ gục ở gian ngoài rồi tỉnh dậy, vào xem cháu và cười một mình. Đêm càng sâu, sự yên tĩnh trong nhà càng khác với những đêm trước. Trước đây, im lặng là thứ làm cả nhà căng tai nghe tiếng chân trên mái, nghe tiếng khóc giờ Tý, nghe hơi thở đứt quãng của đứa bé. Đêm nay, im lặng là im lặng thật. Mưa không rơi. Gió chỉ đi nhẹ qua vườn ổi. Con chó dưới bếp ngủ yên, thỉnh thoảng trở mình. Không có tiếng khập khiễng nào đi vòng trên ngói. Không có tiếng thì thầm nào gọi nợ. Tư ngồi bên giường con đến quá nửa đêm, kiếm gỗ đào đặt ở góc buồng, không còn treo đầu giường nữa, vì thầy Mùi nói từ nay nhà này giữ kiếm để nhớ, không phải để chờ.
Ông nghĩ về Gấm. Ông không biết cô có thật sự siêu thoát theo cách các thầy nói hay không, vì người sống không ai nhìn thấy được bờ bên kia. Nhưng ông biết một điều chắc chắn: từ đêm nay, không còn một người đàn bà nào phải nằm dưới đáy giếng lạnh để đòi lại tên mình bằng mạng của trẻ con nữa. Tên cô đã về sách. Xương cô đã về mộ. Hương của cô đã cháy trong gian thờ của họ đã xóa cô. Nếu linh hồn có một nơi để đi, thì con đường của cô từ nay đã mở, không còn bị phiến đá đậy lên miệng nữa.
Mây tỉnh dậy lúc gần sáng, thấy chồng vẫn ngồi, bà khẽ hỏi:
- Con dứt sốt thật rồi phải không anh?
Tư đặt tay lên trán Khang một lần nữa. Trán đứa bé mát và khô, hơi thở đều, giấc ngủ sâu. Ông gật đầu, và lần này ông dám nói thành lời điều mà suốt bảy ngày qua ông chỉ dám nghĩ:
- Dứt rồi em ạ. Đêm nay nó dứt sốt hoàn toàn.
Mây nghe chồng nói dứt sốt, bà không khóc to. Bà chỉ cúi xuống hôn lên má con, rồi hôn lên vết bớt giữa trán nó. Vết bớt vẫn còn đó, đen và rõ, chưa biến mất. Nhưng dưới vết bớt ấy, đứa bé đang ngủ một giấc ngủ khỏe mạnh đầu tiên kể từ ngày nó tròn trăm ngày tuổi. Với một người mẹ đã mất ba đứa con, bấy nhiêu thôi đã là một trời khác. Bà thì thầm cảm ơn mà không biết cảm ơn ai: cảm ơn thầy, cảm ơn các cụ đã nói, cảm ơn người đàn bà dưới giếng đã chịu nhận lễ, hay cảm ơn chính đứa con bé bỏng của mình đã cố thở qua bảy ngày sốt để chờ cha mẹ nó làm xong việc phải làm.
Bà Hai Lựu kiểm tra Khang lần cuối trước khi về nhà, bắt mạch bằng mấy ngón tay già nua, rồi gật đầu nói một câu mà Tư sẽ nhớ suốt đời, câu nói gói lại cả nửa năm trời của nhà ông và nửa thế kỷ của một người đàn bà:
- Nó trả lại tên cho người ta, người ta trả lại mạng cho con nó.