Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 45: Đào Đi

Tư quỳ giữa sân nhà tổ đến khi nắng trưa bắt đầu nghiêng. Không ai đến kéo ông dậy. Cũng không ai dám phá thêm một thứ gì nữa. Mâm đàn bị đá đổ vẫn nằm ở…

Nội dung chương

Tư quỳ giữa sân nhà tổ đến khi nắng trưa bắt đầu nghiêng.

Không ai đến kéo ông dậy. Cũng không ai dám phá thêm một thứ gì nữa. Mâm đàn bị đá đổ vẫn nằm ở góc sân, bát nước đã khô một nửa trên gạch đỏ, mấy nén hương gãy lăn vào chân cột. Thầy Mùi đứng ở hiên, tay cầm tờ văn khấn ướt, không nói. Bà Sen đứng cạnh hai cụ già, mắt nhìn người con rể đang quỳ mà không can ngăn. Bà biết có những lúc can ngăn một người đàn ông đang quỳ vì con mình là làm nhẹ đi điều cả họ cần phải nhìn.

Sự im lặng trong sân kéo dài đến mức người ngoài cổng bắt đầu gọi nhau khẽ khẽ. Rồi một tiếng nói già vang lên từ phía hiên sau.

- Tôi nhớ.

Đó không phải bà Sen. Lần này là một cụ bà trong họ, người từ đầu buổi chỉ ngồi ở bậc thềm với chiếc quạt mo trên tay. Cụ đã ngoài bảy mươi, lưng còng, mắt mờ, là cháu dâu đời sau của một người từng làm việc trong nhà tổ xưa. Cụ chống gậy đứng lên, con cháu vội đỡ, nhưng cụ gạt tay ra.

- Tôi nhớ mẹ tôi kể. Mẹ tôi nói nhà này có một người vợ lẽ tên Gấm, người mỏng, tóc dài, hát ru hay lắm. Cô ấy có mang. Bà cả không có con, muốn nhận đứa bé trong bụng cô làm con mình để giữ chỗ trong nhà. Cô Gấm không chịu. Sau đó người ta nói cô ăn cắp, nói cô gian díu, toàn những lời từ miệng người trên đưa xuống. Mẹ tôi nói những lời ấy không ai dám cãi, vì cãi là cãi với bà cả và ông chủ.

Sân nhà tổ rúng động. Một cụ ông khác, người đã kể chuyện cho Tư trong buổi các cụ lặng lẽ đến nhà sau họp họ ở đình, cũng đứng lên.

- Mẹ tôi giữ chiếc lược sừng của cô Gấm chính vì bà ấy thương cô. Bà ấy nói cô Gấm bị đánh què chân phải trong một đêm mưa. Đánh trong buồng, không cho kêu to. Sau đó cô sảy thai. Người ta tưởng cô sẽ nằm liệt rồi chết trên giường, ai ngờ cô ra được đến giếng sau. Sáng hôm sau người ta thấy cô dưới giếng. Nhà không làm ma tử tế. Chôn vội ngoài bãi tha ma. Tên trong gia phả thì xé đi. Tôi giữ chuyện này trong bụng nửa đời người, vì cha tôi dặn nói ra là làm xấu họ. Nay tôi già rồi. Tôi không muốn mang cái xấu thật ấy xuống mồ chỉ để giữ một cái tiếng tốt giả trên mặt đất.

Bà Sen bước ra giữa sân, đứng cạnh Tư đang quỳ.

- Tôi là người ngoài họ Ngô, bà nói, nhưng tôi là mẹ của đứa đàn bà đã sinh bốn lần cho nhà này và mất ba đứa cháu ngoại đúng trăm ngày. Tôi nhớ lần đầu tôi vẽ Cung Vôi cho con gái tôi đẻ, các bà già đã dặn tôi rằng nhà này có một oan hồn đàn bà dưới giếng chưa được gọi tên. Khi ấy tôi tưởng là lời đồn. Ba đứa cháu tôi chết rồi tôi mới biết lời đồn ấy có xương có thịt. Hôm nay tôi đứng đây nói tôi nhớ, để các người trong họ không còn nói chỉ có một mình thầy đồ Tư bịa chuyện.

Lần lượt, như một bờ đê đã nứt một chỗ thì nước tìm được đường, thêm hai người già nữa lên tiếng. Một người nhớ tiếng khóc trong đêm ở vườn sau nhà tổ khi còn là đứa trẻ chăn trâu. Một người nhớ cha mình từng được lệnh mang phiến đá đến đậy miệng giếng mà không được hỏi vì sao. Một người nhớ bài vị của cụ Hoành từng có một khoảng trống bên cạnh, sau bị che bằng một tấm vải đỏ, rồi khoảng trống ấy biến mất khi nhà thờ được sửa lại.

Mỗi lời kể không dài. Mỗi lời kể đều bắt đầu bằng một sự ngập ngừng của người đã im lặng quá lâu. Nhưng khi chúng đặt cạnh nhau, cạnh chiếc lược sừng trong tay Tư, cạnh trang gia phả bị xé và dòng chữ của cha Tư, chúng thành một câu chuyện không ai còn đẩy ra ngoài cổng được nữa.

Ngô Văn Cừ đứng trên hiên, mặt ông ta từ đỏ chuyển sang trắng.

Ông ta nhìn các cụ già trong họ của mình đang nói. Ông ta nhìn người cháu đang quỳ. Ông ta nhìn dân làng ngoài cổng, nơi tiếng xì xào đã tắt hẳn để nghe. Cả đời Cừ giữ nhà tổ, giữ gia phả, giữ tiếng cho họ Ngô bằng cách khóa những cánh cửa cần khóa và bịt những miệng giếng cần bịt. Cha ông ta đã trao cho ông ta không chỉ chìa khóa nhà tổ, mà cả một lệnh im lặng. Ông ta đã thi hành lệnh ấy thành thục đến mức tưởng đó là trách nhiệm thiêng liêng.

Giờ lệnh ấy đang vỡ ngay trước mặt ông ta, không phải bởi thầy pháp, không phải bởi ma quỷ, mà bởi chính những người già trong họ đã không chịu im nữa.

Tư vẫn quỳ giữa sân, nhưng đầu ông ngẩng lên theo từng người nói. Ông không ngờ buổi sáng bị phá đàn của mình lại mở ra điều này. Ông đã tưởng hôm nay chỉ có một mình ông nói, một mình ông quỳ, rồi một mình ông bị đuổi về như bao lần trước. Ông quên rằng trong họ này, trong làng này, còn những người già đã mang câu chuyện của Gấm trong lòng lâu hơn cả ông. Họ im lặng không phải vì họ không biết, mà vì chưa từng có một chỗ nào, một lúc nào, mà nói ra không bị trưởng họ dập xuống ngay. Việc ông quỳ giữa sân, gọi một người đàn bà bị xóa tên bằng bà, đã cho họ chỗ ấy.

Bà lão mù họ Tạ không có mặt trong sân, vì bà không đi lại được, nhưng lời của bà qua miệng Tư vẫn ở đó. Ông nhắc lại cho cả sân nghe: bà Tạ từng bưng nước trong nhà tổ, từng thấy cô Gấm đeo chiếc vòng bạc ở cổ tay, từng nghe tiếng cô khóc trong buồng sau khi mất con. Bà Tạ mù mắt đã nhiều năm, nhưng bà nhớ giọng của cô Gấm, nhớ tiếng chân cô đi khập khiễng sau đêm bị đánh, nhớ cả câu cô nói trước ngày chết rằng nếu cô có mệnh hệ gì, người ta cũng không cho cô một chỗ nằm tử tế trong đất nhà này.

Khi Tư nhắc đến vòng bạc, cụ bà đầu tiên lại lên tiếng:

- Đúng. Mẹ tôi nói cô ấy có chiếc vòng bạc mỏng, mặt trong khắc một bông hoa nhỏ. Vòng ấy là của hồi môn ít ỏi cô mang theo khi về nhà này. Người ta chôn cô vội, không ai tháo vòng ra. Nếu dưới giếng còn người, vòng còn ở đó.

Một sự rùng mình đi qua sân. Cho đến lúc ấy, hài cốt dưới giếng vẫn là một ý niệm. Chiếc vòng bạc làm cho ý niệm ấy thành một vật có thể chạm vào, có thể nhìn thấy, có thể đặt lên bàn thờ mà khóc. Cừ nghe đến vòng bạc, tay ông ta bấu chặt vào cột hiên. Tư biết ông ta cũng nhớ. Có thể cha ông ta đã kể cả chi tiết ấy, như kể một danh sách những thứ phải chôn cùng sự thật. Danh sách ấy nay được đọc lại giữa sân, trước mặt những người mà nó từng được giấu kín suốt mấy chục năm trời đằng đẵng.

- Đủ rồi, Cừ nói, giọng không còn là tiếng quát. Đủ rồi. Các người đừng kể nữa.

Không ai dừng vì sợ ông ta nữa. Cụ bà đầu tiên quay lại nhìn trưởng họ.

- Ông Cừ, ông biết mà, phải không? Ông biết từ đầu mà ông để thầy đồ nó mất ba đứa con.

Câu hỏi ấy rơi xuống sân như một hòn đá rơi xuống mặt nước lặng.

Cừ lùi lại một bước, lưng chạm vào cột hiên. Tay ông ta run lên, tràng hạt trên tay rơi xuống, các hạt gỗ lăn trên nền gạch. Người cháu họ cực đoan lúc sáng định đến đỡ, nhưng Cừ giơ tay ngăn lại. Ông ta cúi xuống nhặt tràng hạt mà nhặt không được, các ngón tay quờ quạng như người vừa mù đi trong một thoáng.

- Cha tôi nói với tôi năm ông ấy sắp chết, Cừ nói. Ông ấy gọi tôi vào buồng sau, chỉ cho tôi chỗ phiến đá ở giếng, và nói nhà này có một việc không được đào lên. Cô Gấm chết dưới giếng là thật. Tên cô bị xé là thật. Cha tôi nói nếu chuyện ra ngoài, họ Ngô mất mặt với cả tổng, con cháu không ai dám ngẩng đầu, ruộng hương hỏa cũng bị người ta chê cười mà bỏ. Ông ấy bắt tôi thề trước bài vị rằng còn tôi sống, giếng ấy không mở, tên ấy không nhắc.

Ông ta ngẩng lên nhìn Tư. Nước mắt chảy xuống hai má già nua mà ông ta không lau.

- Tôi biết mày mất con. Lần Bình chết trước cổng nhà này, tôi ở trong nhà, tôi nghe tiếng mày gọi. Tôi không mở cổng. Tôi tự nói với mình rằng mở cổng cho thầy pháp vào là nhận chuyện giếng, nhận chuyện của cha ông. Tôi giữ lời thề với người chết mà để người sống chết thêm. Tôi là trưởng họ. Tội ấy của tôi, không phải của một mình đời trước.

Cừ bước xuống hiên. Ông ta đi qua sân, đến trước mặt Tư đang quỳ, và cúi người đỡ Tư dậy bằng hai tay run rẩy.

- Mày đứng lên. Người phải quỳ hôm nay không phải mày.

Tư đứng lên, đầu gối tê dại, phải vịn vào tay Cừ mới vững. Hai người đàn ông, một già một trung niên, đứng giữa sân nhà tổ nhìn nhau trong im lặng của cả họ. Rồi Cừ quay về phía cổng, nơi then khóa vẫn cài chặt từ lúc sáng, và tự tay rút then, tự tay kéo cánh cổng nặng nề mở ra trước mặt dân làng đang đứng đầy ngõ.

Ông ta nói to, giọng khàn đi nhưng rõ từng chữ:

- Đào đi. Tao chịu nhục thay cha tao.

Chương khác

Xem thêm