Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 44: Quỳ Giữa Sân Nhà Tổ
Ngày mười tám tháng chín, Tư lên nhà tổ từ sớm. Ông đi một mình qua ngõ làng còn ướt sương, tay ôm bọc vải đựng gia phả và chiếc lược sừng, vai phải còn…
Nội dung chương
Ngày mười tám tháng chín, Tư lên nhà tổ từ sớm.
Ông đi một mình qua ngõ làng còn ướt sương, tay ôm bọc vải đựng gia phả và chiếc lược sừng, vai phải còn băng khăn sau vết cào đêm trước. Thầy Mùi ở lại nhà trông cơn sốt của Khang và chuẩn bị những thứ cần cho đàn sám hối nếu họ đồng ý. Mây muốn đi theo, nhưng Khang đang nóng, bà không thể rời con. Trước khi Tư ra khỏi sân, bà chỉ nói một câu:
- Anh nói cho tử tế. Nhưng nếu họ vẫn khóa cổng, anh đừng quay về tay không mà không nói hết điều cần nói. Con mình không còn bảy ngày để chờ người ta giữ mặt mũi đâu.
Nhà tổ họ Ngô nằm ở giữa làng, cổng gạch, sân rộng lát gạch đỏ, bên trong là gian thờ với hoành phi và những bài vị xếp thành hàng. Sau nhà là khu vườn có miệng giếng bị đậy phiến đá. Tư đã đến đây nhiều lần trong đời, lúc còn nhỏ theo cha đi giỗ, lúc lớn lên bị gọi đến nghe trưởng họ dạy bảo, và một lần bế Bình chạy đến trong đêm trăm ngày của con mà cổng đóng trước mặt. Hôm nay ông đến không phải để xin ăn, xin đất hay xin một lời thương hại. Ông đến để xin cả họ nhận lại một người.
Ngô Văn Cừ ngồi ở hiên nhà tổ, trước mặt là ấm trà. Mấy người đàn ông trong họ đã có mặt, có người là anh em xa, có người là cháu gọi Tư bằng chú, có người chỉ đến vì nghe tin nhà thầy đồ đánh thắng ma trong đêm và muốn xem ông sẽ nói gì. Không khí trong sân không giống một buổi tiếp khách. Nó giống một buổi xét hỏi đã chuẩn bị trước.
Tư đặt bọc vải xuống, chắp tay thưa rõ ràng:
- Thưa bác trưởng họ, thưa các cụ và anh em. Hôm nay cháu lên không phải để gây chuyện. Đêm qua con cháu đã qua được đêm thứ một trăm nhờ trận của thầy Mùi và kiếm Thánh Trần. Nhưng sáng nay nó sốt trở lại. Thầy nói trong bảy ngày nếu không sám hối và cải táng cho người chết oan dưới giếng sau nhà này, nó vẫn chết. Cháu xin họ cho mở giếng, lập đàn sám hối tại nhà tổ, khắc lại tên người ấy vào gia phả.
Cừ đặt chén trà xuống rất mạnh.
- Lại chuyện giếng. Mày thắng được một đêm ở nhà mày, giờ mày muốn đem chuyện ma quỷ vào nhà thờ họ để bôi nhọ tổ tiên à?
- Cháu không bôi nhọ tổ tiên. Cháu xin họ sửa một việc sai của tổ tiên để lại.
- Sai ở đâu? Ai thấy? Con mày sốt thì mời lang y, mời thầy cúng nhà mày. Nhà tổ không phải chỗ cho thầy pháp làng bên vào làm trò.
Mấy người đàn ông phía sau Cừ gật đầu. Có người nói to:
- Đúng đấy. Chuyện đàn bà chết từ đời nào, ai chứng kiến? Đào giếng nhà thờ họ lên giữa làng, người ta cười cho cả họ này không ngẩng mặt được.
Tư mở bọc vải, đặt cuốn gia phả lên bàn, mở đến chỗ trang bị xé và dòng chữ của cha ở cuối sổ. Rồi ông đặt chiếc lược sừng bên cạnh.
- Đây là gia phả cha cháu chép. Phần về cụ cố nội bị xé mất một trang. Đây là lược sừng của cô Đinh Thị Gấm, các cụ già trong làng còn giữ được. Bà lão mù họ Tạ từng ở trong nhà này, còn nhớ tên cô và chiếc vòng bạc chôn theo khi cô chết giếng. Đêm qua tiếng chân trên mái nhà cháu là tiếng chân què, đúng chân phải, đúng như lời kể cô bị đánh què. Cháu không nói không có bằng chứng.
Cừ nhìn chiếc lược, mặt ông ta đổi sắc một thoáng rồi cứng lại.
- Lược cũ thì làng này thiếu gì. Gia phả thiếu trang thì có thể chuột gặm, có thể ẩm mục. Mày lấy mấy thứ ấy ra dọa họ à?
- Cháu không dọa. Cháu xin lập đàn. Nếu dưới giếng không có gì, cháu chịu tội trước họ. Nếu có hài cốt, họ phải nhận.
Câu ấy làm sân xôn xao. Một vài người trẻ phía ngoài bắt đầu thì thầm rằng đào lên xem cũng được, có gì thì rõ. Nhưng những người đứng gần Cừ lập tức át đi. Một người cháu họ của Cừ, người vẫn thường làm chân chạy việc cho nhà tổ, bước ra chỉ tay vào mặt Tư:
- Ông đồ đừng cậy có thầy pháp mà muốn làm gì thì làm. Trưởng họ đã nói không là không. Đàn với chả sám hối, toàn trò bịp để lấy tiếng.
Thầy Mùi đến sân đúng lúc ấy, theo sau là bà Sen và hai cụ già trong làng đã kể chuyện Gấm cho nhà Tư. Thầy mang theo một mâm nhỏ cho đàn sám hối đầu tiên: hương, nến, bát nước sạch, tờ văn khấn chưa đọc và một cuộn vải trắng để nếu được đồng ý sẽ dùng khi khai quật. Thầy đặt mâm xuống giữa sân, chắp tay thưa với Cừ bằng giọng rất lễ phép:
- Thưa cụ trưởng họ, tôi là người ngoài họ, không dám xen vào việc nhà. Nhưng đứa bé còn đúng sáu ngày. Đàn này không phải để kết tội ai còn sống. Đàn này để người sống nhận phần sai của người xưa và xin cho người chết được về đúng chỗ của mình.
Cừ đứng dậy.
- Ai cho ông vào đây bày mâm?
- Tôi tự vào vì cổng đang mở và việc liên quan đến một mạng trẻ con.
- Đuổi ra! Cừ quát. Đàn ông họ Ngô đâu, dẹp cái mâm này đi! Nhà thờ họ không phải đình làng cho thầy cúng làm phép lấy tiền!
Mấy người đàn ông cực đoan trong họ xô tới. Một người đá vào mép mâm, bát nước đổ ra sân gạch, ướt một vệt dài. Hương gãy. Nến lăn vào chân cột. Một người khác giật cuộn vải trắng khỏi tay thầy Mùi, ném xuống đất. Bà Sen kêu lên, hai cụ già lùi lại. Thầy Mùi không đánh trả, chỉ cúi xuống nhặt tờ văn khấn đã ướt một góc, mặt thầy tái đi vì giận và vì thương cho đứa bé ở nhà đang sốt.
Tư lao đến chắn trước thầy.
- Các anh làm gì thế! Đàn chưa lập, lời chưa đọc, sao đã phá?
Người cháu họ kia đẩy Tư một cái vào vai phải. Vết cào dưới lớp khăn nhói lên như bị xé lại. Tư loạng choạng, suýt ngã vào cột hiên. Gia phả trên bàn bị gió từ cuộc xô đẩy làm lật trang, chiếc lược sừng rơi xuống nền gạch, kêu một tiếng khô nhỏ mà Tư nghe rõ hơn cả tiếng người la ó. Ông vội quỳ xuống nhặt lược, giữ chặt trong tay như giữ một bằng chứng cuối cùng không thể để mất.
Cừ ra lệnh khóa cổng nhà tổ. Hai cánh cổng gạch nặng nề khép lại trước mặt dân làng đang kéo đến ngoài ngõ vì nghe tiếng ồn. Tiếng then cài vang lên. Họ hàng đứng trong sân, người thì hả hê, người thì tránh mắt Tư, người thì nhìn mâm đàn bị phá mà không dám nói.
Tư thua thật, ngay giữa sân nhà của tổ tiên mình.
Nhưng ông không ra về.
Giữa trưa nắng tháng chín, khi sân gạch nhà tổ nóng lên và mọi người tưởng ông sẽ ôm bọc vải quay đi như những lần bị đuổi trước, Tư quỳ xuống giữa sân. Ông quỳ thẳng, hai tay nâng chiếc lược sừng và cuốn gia phả thiếu trang, nói to đủ để người trong sân và cả người đứng ngoài cổng nghe thấy:
Tư quỳ mà đầu vẫn ngẩng. Ông nói tiếp, từng câu chậm và rõ, không phải khấn quỷ, không phải đọc văn tế, chỉ là lời của một người cháu trong họ nói về một người đàn bà đã bị họ mình xóa tên:
- Bà là vợ của cụ cố nội nhà này. Bà vào nhà này bằng kiệu, không phải chui qua cửa sau. Bà mất con, mất chân lành, mất mạng dưới giếng, rồi mất luôn cả tên trong gia phả. Con cháu đời sau không biết bà là ai, chỉ biết ba đứa trẻ chết đúng trăm ngày và một đứa đang sốt trong nhà tôi. Hôm nay tôi quỳ ở đây không phải để xin một mình bác trưởng họ thương con tôi. Tôi xin cả họ nhớ lại rằng nhà này có một người chưa được gọi đúng bằng danh phận của mình.
Trong sân im dần. Tiếng la ó của mấy người cực đoan nhỏ lại. Một vài người đàn bà đứng ở phía hiên sau bắt đầu khóc lặng. Người ngoài cổng không còn chen lấn, họ áp tai vào cánh cổng nghe.
Cừ đứng trên hiên, mặt đỏ lên.
- Mày đứng dậy! Mày quỳ giữa sân nhà tổ làm nhục họ à?
- Cháu không làm nhục họ. Cháu đang gánh nhục thay họ để họ nhìn. Nếu gọi một người chết oan bằng bà là nhục, thì xóa tên người ta khỏi sách, đậy đá lên miệng giếng, để trẻ con chết hết đứa này đến đứa khác mới là nhục thật.
Lời ấy làm Cừ giơ tay lên như muốn ra lệnh đuổi Tư ra ngoài, nhưng cánh tay ông ta dừng lại giữa chừng. Ông ta nhìn xuống người cháu đang quỳ trên gạch nóng, nhìn chiếc lược sừng trong tay Tư, nhìn mâm đàn bị phá và tờ văn khấn ướt đang nằm trong tay thầy Mùi. Lần đầu tiên trong buổi sáng, trưởng họ không nói được câu nào trọn vẹn.
Tư vẫn quỳ. Nắng trưa chiếu thẳng xuống sân, mồ hôi chảy qua vết băng trên vai ông, thấm vào áo. Đầu gối ông đau trên nền gạch, nhưng ông không đổi thế quỳ. Ông biết nếu hôm nay ông đứng dậy và đi về, Khang sẽ chỉ còn biết chờ sốt giết nó trong sáu ngày. Ông quỳ không phải để thắng bằng nước mắt. Ông quỳ để cả họ phải nhìn thấy cái giá của sự im lặng đang đặt ở giữa sân nhà họ, bằng xương, bằng thịt, bằng một người cha vừa mất ba đứa con.
Ông nói câu cuối cùng, to và rõ hơn tất cả những câu trước:
- Tôi, Ngô Văn Tư, xin được gọi cô Đinh Thị Gấm bằng bà.