Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 47: Khắc Lại Tên Người

Đàn sám hối được lập lại tại nhà tổ vào ngày hai mươi mốt tháng chín, lần này không ai dám phá. Sân nhà tổ được quét sạch từ sáng sớm. Chiếc mâm bị đá đổ…

Nội dung chương

Đàn sám hối được lập lại tại nhà tổ vào ngày hai mươi mốt tháng chín, lần này không ai dám phá.

Sân nhà tổ được quét sạch từ sáng sớm. Chiếc mâm bị đá đổ hai ngày trước đã được thay bằng một đàn lễ trang trọng mà giản dị: bàn thờ nhỏ đặt giữa sân, hướng về gian thờ chính, trên bàn có hương, nến, hoa trắng, bát nước sạch, đĩa muối gạo, chiếc vòng bạc đã rửa sạch bùn đặt trên khăn đỏ, chiếc lược sừng đặt bên cạnh, và cuốn gia phả họ Ngô mở ở trang về cụ cố nội Ngô Đình Hoành. Hài cốt của Gấm, sau khi được khâm liệm tạm trong vải trắng và đặt vào một chiếc tiểu gỗ mới, được đặt ở phía dưới bàn thờ, trên một bệ thấp phủ vải điều, như một người đang được đưa về nhà để nghe con cháu nói lời phải trái.

Người trong họ đến đông đủ hơn cả ngày giỗ lớn. Dân làng đứng ngoài cổng và dọc ngõ, không chen lấn, không ồn ào. Ông Từ đình đến. Bà lão mù họ Tạ được cháu dìu đến, ngồi ở một chiếc ghế nhỏ gần cổng. Bà không nhìn thấy đàn lễ, nhưng bà nghe tiếng người đọc tên Gấm và khóc lặng lẽ, nước mắt chảy xuống hai gò má nhăn nheo. Bà đã chờ ngày này từ khi còn là một người ở trẻ trong nhà tổ, chờ đến khi mắt đã mù và tóc đã bạc hết.

Cừ đến trước đàn với bộ áo the đen, tay cầm một nén hương chưa thắp. Ông ta đứng rất lâu ở đầu hàng, mặt cúi, không nói. Theo lệ, trưởng họ là người mở đầu mọi việc trong nhà thờ. Nhưng hôm nay, người đọc văn sám hối không phải Cừ. Người ấy là Tư. Chính Cừ đã xin như vậy từ chiều hôm trước: để người cháu đã mất ba đứa con đọc thay cả dòng họ, vì món nợ này đã lấy con của Tư làm đường đi, và vì Tư là người đầu tiên dám gọi người chết bằng đúng danh phận trước mặt cả họ.

Thầy Mùi đứng bên đàn, không làm thầy cúng theo lối ồn ào. Thầy chỉ hướng dẫn thứ tự: thắp hương, đọc tên người chết, đọc văn sám hối, khắc lại tên vào gia phả, rồi mới khấn xin cho người chết nhận lễ và buông oán. Thầy nói rõ với cả sân trước khi bắt đầu:

- Đàn này không phải để mua chuộc. Người chết không cần tiền giấy của người sống bằng cần một lời thật. Ai hôm nay đứng đây mà trong lòng vẫn cho đây là trò dẹp chuyện cho yên nhà, thì xin đứng ra ngoài. Lễ giả thì nợ không tan, chỉ làm người chết thêm oán.

Không ai ra ngoài.

Tư bước lên trước đàn. Vai phải của ông vẫn còn băng, nhưng ông đã thay chiếc áo rách bằng áo dài sạch của mình, chiếc áo ông chỉ mặc khi đi dạy ngày đầu năm và khi đứng trước bàn thờ cha. Tay ông cầm tờ văn sám hối do chính ông viết trong đêm, với sự giúp sức của thầy Mùi về thể thức, nhưng từng câu nhận lỗi là chữ của ông.

Ông đọc.

Ban đầu giọng ông nhỏ, vì cổ họng khô và vì trước mặt ông là cả một dòng họ đã từng đuổi ông, phá đàn của ông, đóng cổng trước mặt ông. Nhưng ông đọc chậm, rõ, không bỏ một chữ. Ông đọc tên đầy đủ: Đinh Thị Gấm. Ông đọc năm cô về làm vợ lẽ của cụ Ngô Đình Hoành. Ông đọc những tội mà họ Ngô, qua người xưa và qua sự im lặng của người sau, đã gây ra: vu oan cho người đàn bà có mang, đánh người đến què chân, để người sảy thai trong đau đớn, để người chết dưới giếng mà không một lễ tiễn tử tế, chôn vội ngoài bãi tha ma, xé tên khỏi gia phả, đậy đá lên miệng giếng. Và giữ bí mật ấy qua nhiều đời đến mức ba đứa trẻ vô tội phải chết đúng trăm ngày và một đứa trẻ nữa đang nằm sốt chờ chết.

Trước khi Tư đọc văn, bà lão mù họ Tạ được dìu đến gần đàn. Bà đưa bàn tay già nua run rẩy ra phía trước, xin được chạm vào chiếc vòng bạc một lần. Thầy Mùi đặt vòng vào lòng bàn tay bà. Bà lần theo vòng, chạm vào bông hoa nhỏ ở mặt trong, rồi gật đầu liên tục, nước mắt chảy nhanh hơn.

- Đúng vòng của cô Gấm. Hoa này tôi từng nhìn thấy khi cô soi gương chải đầu. Cô hay đeo nó ở tay trái. Nay tôi mù rồi, tay tôi vẫn nhận ra.

Lời của người ở cũ năm xưa làm những người còn nửa tin nửa ngờ trong sân cúi đầu hẳn. Một vật chứng đã được người sống xác nhận bằng tay, một hài cốt đã được đưa lên bằng mắt của cả làng, một cái tên đã được các cụ già đọc lại bằng miệng. Không còn kẽ hở nào cho sự phủ nhận nữa.

Tư cũng đặt tay lên cuốn gia phả trước khi đọc. Ông nghĩ đến cha mình, người đã chép cuốn sách này, người đã phát hiện trang bị xé mà không đủ sức, không đủ quyền, hoặc không đủ can đảm để viết lại tên người đàn bà ấy khi còn sống. Cha ông chỉ để lại được một câu ở cuối sổ: nợ nhà này chưa trả. Tư thấy như mình đang làm nốt việc cha mình đã dừng lại giữa chừng, không phải bằng một dòng chữ lén lút ở cuối sách, mà bằng một trang mới chắp vào giữa sách, trước mặt cả họ.

Ông cũng nghĩ đến Mây. Người đàn bà ấy lẽ ra phải có mặt ở đàn này hơn bất cứ ai. Bà đã sinh bốn lần, mất ba đứa, lấy thân che đứa thứ tư trước móng vuốt quỷ. Nhưng bà đang ở nhà, ôm đứa bé sốt, không rời nó dù chỉ một buổi sáng. Tư đọc văn thay cả vợ mình. Trong từng câu nhận lỗi của họ Ngô, ông nghe thấy cả tiếng của Mây từ đêm bà nói: nó quay lại thì mình phải trả nợ cho xong. Câu nói của một người mẹ kiệt sức, nói trong buồng tối nhiều tháng trước, nay đã thành một đàn lễ giữa sân nhà tổ.

Khi Tư đọc đến ba đứa con của mình, giọng ông vỡ ra. Ông dừng lại. Cả sân im lặng chờ ông, không ai giục. Mây không có mặt ở đàn, bà ở nhà với Khang, nhưng bà Sen đứng trong hàng đàn bà, thay con gái nghe từng chữ. Bà khóc mà không lấy tay lau, để nước mắt rơi tự nhiên xuống áo.

Tư đọc tiếp. Ông nói họ Ngô hôm nay không dám xin cô Gấm quên đi như chưa từng có chuyện. Họ chỉ xin nhận lại cô vào nhà, nhận lỗi trước họ hàng và dân làng, đưa hài cốt cô về nghĩa trang dòng họ, khắc tên cô vào sách, thắp hương cho cô như một người vợ, một người bà trong gia phả, và dạy con cháu đời sau biết rằng tiếng tốt của một dòng họ không nằm ở việc giấu tội, mà nằm ở việc dám sửa tội khi đã biết.

Đọc xong văn, Tư đặt tờ giấy xuống, cầm bút lông lên.

Cuốn gia phả mở sẵn. Trang bị xé năm xưa đã được thay bằng một trang giấy mới do Tư tự tay chắp vào từ đêm qua, giấy trắng hơn những trang cũ, như một vết sẹo sáng trên cuốn sách của dòng họ. Bên cạnh tên cụ Ngô Đình Hoành, ở đúng chỗ của người vợ lẽ từng bị xóa, Tư viết từng nét, chậm và chắc:

Đinh Thị Gấm.

Rồi ông viết tiếp năm sinh, năm mất, quê quán theo lời các cụ nhớ được, và một dòng ngắn: vợ lẽ cụ Hoành, mất năm một nghìn tám trăm tám mươi tư, cải táng nhập mộ họ Ngô năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu.

Mực còn ướt, tên người đàn bà hiện ra đen và rõ trên trang giấy mới, giữa những cái tên đàn ông đã nằm trong sách hơn một thế kỷ.

Đến lúc ấy, Cừ mới bước lên.

Trưởng họ cầm nén hương của mình, châm vào ngọn nến trên đàn. Tay ông ta run đến mức lửa mấy lần suýt tắt. Ông ta thắp nén hương đầu tiên cho Gấm, cắm vào bát hương bằng cả hai tay, rồi quỳ xuống trước tiểu gỗ đựng hài cốt, lạy ba lạy như lạy một người bề trên trong nhà. Cả họ phía sau lần lượt quỳ theo. Tiếng áo chạm đất, tiếng đầu gối trên gạch, tiếng khóc nén lại đi qua sân nhà tổ như một cơn gió chậm.

Sau khi cả họ lạy xong, không ai nói chuyện to. Người ta lần lượt đến trước đàn thắp một nén hương cho người đàn bà mà phần lớn họ chưa từng gọi bằng tên trong đời mình. Có người gọi khẽ là bà Gấm. Có người chỉ cúi đầu mà không gọi được, vì hổ thẹn. Có đứa trẻ được mẹ dắt đến, ngây thơ hỏi người nằm trong tiểu gỗ là ai, và được mẹ đáp: là bà của họ mình, nay bà mới được về nhà. Tư nghe câu đáp ấy mà thấy trang giấy mới trong gia phả như có thêm sức nặng. Tên được khắc lại không chỉ nằm trong sách. Nó đang trở lại trong miệng người sống, trong cách một đứa trẻ sẽ lớn lên và biết nhà mình từng có một người như thế.

Thầy Mùi thu tờ văn sám hối đã đọc, gấp lại, đặt lên bàn thờ chứ không đốt ngay. Thầy nói văn này sẽ được giữ cùng gia phả, để đời sau không chỉ thấy tên Gấm được viết lại, mà còn thấy con cháu đã nhận lỗi bằng những lời nào. Một cái tên có thể bị xé lần nữa nếu người ta quên vì sao nó được viết lại. Một tờ văn còn đó sẽ nhắc họ.

Khi nén hương của Cừ cháy hết, ở nhà Tư cách đó một quãng ngõ, người nhà chạy sang báo tin mà Tư nghe thấy ngay từ cổng: trong buồng, Khang mở mắt và khóc to, khỏe, lần đầu tiên sau nhiều ngày.

Chương khác

Xem thêm