Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 49: Vết Bớt Biến Mất

Bảy ngày sau cải táng, vết bớt trên trán Khang mờ đi từng chút một, rồi biến mất hẳn. Những ngày đầu, nó chỉ nhạt ở viền. Chữ Oan đen từng đậm như mực…

Nội dung chương

Bảy ngày sau cải táng, vết bớt trên trán Khang mờ đi từng chút một, rồi biến mất hẳn.

Những ngày đầu, nó chỉ nhạt ở viền. Chữ Oan đen từng đậm như mực tàu nay loang ra thành một vệt xám, các nét không còn sắc. Mây mỗi sáng đều bế con ra chỗ sáng nhất trong buồng, nghiêng trán con dưới ánh nắng sớm để nhìn. Bà không dám nói to điều mình thấy, sợ nói trước bước sẽ làm vận may quay lưng. Bà chỉ nói với chồng bằng giọng rất nhỏ:

- Hình như nó nhạt đi, anh ạ. Hay mắt em nhìn mãi thành quen?

Tư cũng nhìn. Ông là người đã quẹt vết nhọ nồi gốc lên trán Cát, là người đầu tiên nhìn thấy vết bớt này trên trán Khang trong tay bà đỡ. Ông biết rõ từng nét của nó. Ông biết nó đang nhạt thật. Ngày thứ ba sau cải táng, một góc của chữ đã mất hẳn. Ngày thứ năm, chỉ còn một vệt mờ như khói bám trên da. Sáng ngày thứ bảy, tức ngày hai mươi chín tháng chín, Mây bế con ra hiên, đứng rất lâu trong nắng, rồi quay lại nhìn chồng với đôi mắt đầy nước.

- Hết rồi. Hết hẳn rồi anh ơi. Trán nó nhẵn rồi.

Tư bước đến, đưa tay chạm nhẹ lên trán con. Da trẻ con mềm và mát, không còn vết đen nào. Ông chạm vào đúng chỗ mà suốt hơn một trăm ngày, cả nhà ông nhìn vào là thấy một món nợ hiện hình. Nay chỗ ấy chỉ là trán của một đứa bé bình thường, một đứa bé đã qua trăm ngày, qua bảy ngày sốt, qua một đêm kiếm chém và một buổi cải táng, để trở lại làm con của cha mẹ nó mà thôi.

Khang nhìn cha, cười một tiếng nhỏ, tay với lấy ngón tay ông. Nó đã khỏe lại nhanh hơn mọi người tưởng. Nó bú tốt hơn, ngủ dài hơn, và bắt đầu biết hóng chuyện, đầu quay theo tiếng người nói trong nhà. Bà Sen bảo trẻ con qua được một nạn lớn thì như cây qua được một mùa hạn, rễ sẽ ăn sâu hơn. Bà Hai Lựu đến thăm, nhìn trán đứa bé, gật đầu mãi.

- Tôi đỡ nó ra, tôi thấy dấu ấy đầu tiên. Nay tôi được nhìn thấy nó mất đi, thế là đời làm bà đỡ của tôi không còn gì phải day dứt với nhà này nữa.

Buổi chiều hôm ấy, Ngô Văn Cừ đến nhà Tư.

Ông ta đến một mình, không kiệu, không người theo, tay cầm một bọc giấy và một chiếc chìa khóa cũ của nhà tổ mà ông ta không dùng đến. Người làng nhìn thấy trưởng họ vào ngõ nhà thầy đồ thì đứng lại xem, nhưng Cừ đi thẳng, lưng hơi còng hơn trước, như đã đặt xuống một gánh nặng mang suốt mấy chục năm mà cơ thể chưa quen với sự nhẹ nhõm.

Tư mời ông ta vào gian ngoài. Lớp học vẫn chưa mở lại, bàn ghế còn xếp ở vách, nhưng Tư đã lau sạch bụi từ hôm qua. Cừ ngồi xuống, đặt bọc giấy lên bàn, mở ra. Bên trong là văn tự của mảnh ruộng hương hỏa, mảnh ruộng cuối cùng của cha Tư để lại, mảnh ruộng Tư đã phải bán đi để lo lệ thỉnh kiếm ở đền Kiếp Bạc trong những ngày cả họ quay lưng. Người mua lại mảnh ruộng ấy, qua tay người khác, chính là Cừ. Ông ta đã mua nó trong im lặng, khi Tư bị dồn đến đường cùng.

- Mảnh ruộng này của cha mày để lại cho mày lo hương hỏa, Cừ nói. Tao mua lại khi mày bán, lúc ấy tao nói với người môi giới là mua để giữ đất họ không rơi ra ngoài. Thật ra tao mua vì tao biết mày bán để làm gì, và tao muốn nếu mày thất bại, đất ấy vẫn ở trong tay họ mà không về tay mày nữa. Tao nói thật điều xấu ấy để mày biết tao trả lại không phải làm phúc. Tao trả vì nó vốn là của mày, và vì tao nợ mày một việc lớn hơn mảnh ruộng này nhiều.

Ông ta đẩy văn tự về phía Tư.

- Nay tao trao lại. Mày nhận đi. Hương hỏa từ nay có thêm một người phải cúng là bà Gấm. Ruộng này làm hoa lợi, mày lo phần hương khói cho cả bà ấy trong nhà thờ, thay cho những năm bà ấy không có một nén hương nào.

Tư cầm văn tự lên. Tay ông run không phải vì giá trị mảnh ruộng, mà vì điều nó tượng trưng. Mảnh ruộng ông bán đi trong tuyệt vọng để đổi lấy một thanh kiếm gỗ, nay trở về trong một buổi chiều yên tĩnh, từ tay chính người đã đóng cổng nhà tổ trước mặt ông trong đêm con ông chết nhiều năm trước. Vòng tròn của mất mát và sửa sai, trong khoảnh khắc ấy, khép lại một cách lặng lẽ.

- Bác đã mở cổng, đã nhận lỗi trước họ, đã thắp hương đầu tiên cho bà Gấm. Thế là đủ cho cháu rồi. Ruộng này cháu nhận, nhưng cháu nhận để lo hương hỏa chung, không phải để tính nợ riêng với bác nữa.

Cừ gật đầu. Ông ta nhìn quanh lớp học trống, rồi nói thêm một điều mà Tư không ngờ tới:

- Nhà tao có một đứa cháu nội, năm nay bảy tuổi, đến tuổi học chữ. Trước đây tao không cho nó sang học với mày, vì tao muốn nhà này dứt đường với mày. Nay tao xin cho nó theo học. Mày có nhận cháu của tao không?

Tư nhìn trưởng họ rất lâu. Ông hiểu lời xin ấy không chỉ là chuyện một đứa trẻ đi học. Đó là cách một người già trong họ đặt lại niềm tin vào người cháu mình từng cô lập, ngay trong gian nhà từng bị cả họ quay lưng. Đó là hạt giống đầu tiên của việc họ Ngô học lại cách sống với nhau sau nửa thế kỷ chia rẽ bởi một bí mật.

- Cháu nhận, Tư nói. Trẻ con không có tội gì trong việc người lớn. Nó đến học, cháu dạy như mọi đứa khác.

Những ngày vết bớt mờ dần cũng là những ngày nhà Tư học lại cách sống một đời thường. Mây bắt đầu ra sân vào buổi sáng, tự tay cho gà ăn, tự tay phơi lại những chiếc áo của Khang đã ố vì những ngày sốt. Bà không còn giật mình mỗi khi nghe tiếng động trên mái nữa. Có hôm mưa nhỏ trở lại, cả nhà ngồi ăn cơm nghe mưa trên ngói mà không ai ngẩng lên nghe ngóng. Tư thấy vợ ăn được gần hết bát cơm, thấy bà ngoại Sen ngủ một giấc trưa trọn trên chõng tre, thấy thầy Mùi thu xếp hành lý để trở về làng bên sau khi ở lại Hạ Trạch lâu hơn dự định rất nhiều.

Trước khi về, thầy Mùi vào buồng xem Khang lần cuối. Thầy nhìn trán đứa bé, khi ấy vết bớt chỉ còn một vệt mờ cuối cùng, rồi nói:

- Dấu này là đường nó dùng để tìm về. Đường ấy nay đã bị lấp bằng tên người, bằng mộ người và bằng lời nhận lỗi của cả họ. Nó mờ đến đâu là oán tan đến đó. Khi nó mất hẳn, anh chị đừng giữ lại trong nhà một vật gì để nhớ nó nữa. Nhớ người thì nhớ, giữ sợ thì đừng giữ.

Tư tiễn thầy ra tận đầu làng. Hai người đàn ông đi cạnh nhau trong im lặng một quãng dài. Đến chỗ rẽ, thầy Mùi dừng lại nói:

- Tôi làm nghề này nhiều năm, gặp nhiều nhà xin tôi đuổi quỷ cho họ. Ít nhà nào hiểu được điều nhà anh đã làm. Quỷ chỉ là phần ngọn. Gốc của nó nằm trong lòng người sống và người chết. Anh đã chặt ngọn trong đêm trăm, rồi tự tay đào gốc trong những ngày sau. Cả hai việc đều phải có, thiếu một việc là không xong.

Tư chắp tay cảm ơn thầy. Ông biết số tiền nhà mình trả cho thầy không bao giờ đủ cho những đêm thầy đã thức, cho trận pháp thầy đã bày và cho cả sự gan dạ của thầy khi đứng ra giữa sân nhà tổ bênh một người đàn bà đã chết. Thầy chỉ nhận phần lệ đã định, còn lại thầy bảo để dành lo cho đứa bé và lo hương khói cho bà Gấm.

Sáng hôm sau, Tư dậy sớm quét sân, kê lại bàn ghế trong gian ngoài. Ông đặt thanh kiếm gỗ đào lên một chiếc giá nhỏ ở góc lớp, không treo đầu giường nữa, không giấu đi, cũng không bày ra để khoe. Nó ở đó như một kỷ vật của một năm mà cả nhà ông sẽ không bao giờ quên, và như một lời nhắc cho học trò sau này rằng có những thứ chém được bằng kiếm, và có những thứ chỉ sửa được bằng lòng thật.

Người làng đưa con đến nhiều hơn Tư tưởng. Có người cha từng rút con khỏi lớp trong tháng nhà Tư bị cô lập, nay đứng ở cổng một lúc mới dám vào, tay cầm mấy quả trứng gà và một lời xin lỗi vụng về. Tư không nhắc chuyện cũ. Ông chỉ ghi tên đứa trẻ vào sổ, hỏi nó đã học đến đâu, rồi bảo nó ngồi vào chỗ cũ nếu chỗ ấy còn trống. Có người mẹ bế đứa nhỏ hơn đến xem trán Khang, nhìn mãi không thấy vết bớt đâu, rồi bật khóc ngay giữa sân vì mừng cho nhà thầy đồ. Mây bế Khang ra chào mọi người, bà đã khỏe hơn, má đã có lại chút sắc hồng sau nhiều tháng suy kiệt.

Đứa cháu nội bảy tuổi của Cừ đến lớp trong bộ áo sạch, tay cầm một quyển vở mới và một chiếc bút do chính ông nội nó chuốt. Nó đứng cạnh ông mình ở cổng một lúc, rồi bước vào, ngồi xuống hàng đầu, ngẩng lên nhìn thầy đồ Tư bằng đôi mắt vừa sợ vừa háo hức. Tư nhìn nó mà nghĩ đến những đứa trẻ họ Ngô đời sau. Chúng sẽ lớn lên biết tên bà Gấm trong gia phả, biết câu chuyện của chiếc lược sừng trong hộp gỗ ở nhà tổ, và biết rằng tiếng tốt của họ mình không phải là thứ để giấu tội mà giữ. Nếu chúng học được điều ấy cùng với chữ nghĩa, thì buổi học đầu tiên này có ý nghĩa hơn cả một lớp học mở lại.

Tiếng học trò đọc bài vang lên trong gian ngoài, đầu tiên còn rời rạc, rồi dần thành một nhịp đều. Khang nằm trong buồng nghe tiếng đọc, ê a đáp lại như muốn học cùng. Mây cười, tiếng cười đầu tiên thật sự thoải mái của bà trong nhà này kể từ rất lâu rồi.

Lớp học của thầy đồ Tư mở lại, đông hơn trước.

Chương khác

Xem thêm