Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 43: Bảy Ngày Hạn

Trời sáng ngày mười bảy tháng chín, làng Hạ Trạch thức dậy như chưa từng có một trận chiến trong đêm. Mưa đã tạnh. Sân nhà Tư còn ướt, lá ổi rụng đầy,…

Nội dung chương

Trời sáng ngày mười bảy tháng chín, làng Hạ Trạch thức dậy như chưa từng có một trận chiến trong đêm.

Mưa đã tạnh. Sân nhà Tư còn ướt, lá ổi rụng đầy, mảnh ngói vỡ nằm chỏng chơ gần cửa sổ buồng đẻ. Người đi qua ngõ nhìn vào, thấy cửa nhà thầy đồ mở, thấy bà Sen bưng chậu nước ra sân, thấy khói bếp lên, thì biết đứa bé chưa chết. Tin ấy lan nhanh hơn cả tin dữ những lần trước. Có người mừng thay. Có người đứng xa thì thầm rằng nhà ấy đánh thắng được ma thật. Có người không nói gì, chỉ nhìn về phía nhà tổ họ Ngô rồi lặng lẽ đi tiếp.

Trong nhà, không ai dám nói chữ thắng.

Khang ngủ được đến gần sáng. Giấc ngủ của nó không sâu, thỉnh thoảng giật mình, nhưng hơi thở đều, màu da đã trở lại. Mây ngồi bên giường, lưng dựa vào vách, mắt mở mà như không nhìn thấy gì. Cả đêm bà đã lấy thân che con, đến khi trời sáng, hai vai bà mỏi nhừ, cánh tay ôm con tê đến mức bà phải nhờ mẹ mình đỡ mới đặt được Khang nằm yên xuống chiếu.

Bà Hai Lựu buộc lại vết thương trên vai cho Tư lần nữa. Ba vệt cào đã ngừng chảy máu, nhưng quanh vết có những đường tím nhỏ lan ra như rễ cây. Bà lấy lá thuốc giã với muối đắp lên, Tư đau đến toát mồ hôi mà không kêu.

- Ông chịu giỏi thật, bà Hai nói. Đêm qua tôi tưởng ông ngã trước đứa bé.

- Tôi ngã thì ai cầm kiếm, bà. Tư đáp, rồi tự cười một tiếng rất mệt. Mà tôi cũng chém hụt một lần rồi đấy. Suýt nữa thì hỏng hết vì tôi.

- Hụt mà còn biết nghe thầy để chém lại, thế là còn phúc.

Thầy Mùi ngồi ở gian ngoài, trước mặt là thanh kiếm gỗ đào đặt trên chiếc khăn trắng. Những nét bùa trên kiếm mờ hơn hẳn so với hôm qua. Thầy lấy tay áo lau thân kiếm, chậm rãi, như lau một vật đã làm xong phần việc nặng nhất của nó và cũng đã kiệt sức. Tư ngồi xuống đối diện.

- Thầy, đêm qua qua rồi, phải không? Đêm trăm là đêm nguy nhất. Nó bị chém đứt tay, nó không lấy được mạng trong đêm ấy. Từ nay nó chỉ quấy phá được thôi, như lời thầy nói về luật của nó.

Thầy Mùi không đáp ngay. Thầy nhìn vào buồng, nơi Khang đang ngủ.

- Luật vẫn đúng. Nó chỉ lấy được mạng vào đúng đêm tròn một trăm ngày, trong đất nhà họ. Đêm qua đã qua, nó không còn cửa lấy mạng theo cách ấy nữa.

Tư thở ra một hơi dài. Ông đã chờ câu ấy.

Nhưng thầy nói tiếp, và hơi thở của ông dừng lại giữa chừng.

- Nhưng đứa bé này chưa hết nguy. Anh quên mất một điều. Ba đứa trước chết trong đêm trăm vì nó lấy mạng trực tiếp. Đứa này nó đã chạm được vào sinh khí, đã kéo được một phần hơi của nó qua ngưỡng, dù chưa lấy trọn. Tay nó bị chém, mà hơi nó để lại trong người đứa bé vẫn còn. Nợ chưa trả thì hơi ấy không tự tan. Nó sẽ làm đứa bé sốt trở lại, sốt nặng hơn, và nếu trong bảy ngày tới nhà anh không làm được việc sám hối và cải táng cho người chết, đứa bé vẫn chết. Không phải chết vì nó quay lại lấy trong một đêm khác. Chết vì phần nợ đã bám vào người nó không được gỡ ra.

Trong buồng, như để chứng minh lời thầy, Khang cựa mình và khóc.

Tiếng khóc đầu tiên của buổi sáng còn nhỏ. Mây vội bế con lên. Bà vừa chạm vào người nó đã ngẩng phắt lên, mặt biến sắc.

- Nó nóng. Nó nóng lại rồi.

Tư đứng bật dậy, quên cả vết thương trên vai. Ông vào buồng, đặt tay lên trán con. Nóng. Không phải nóng nhẹ như vừa qua cơn khóc. Trán Khang nóng rực dưới lòng bàn tay ông, nóng hơn cả lúc gần sáng khi nó vừa hạ sốt. Người nó bắt đầu run từng cơn nhỏ. Vết bớt giữa trán lại đậm lên, đen và rõ như trong đêm.

Bà Sen lấy khăn ướt đặt lên người cháu. Khang co giật một lần, ngắn thôi, nhưng đủ làm cả nhà nín thở. Nó không tím nhanh như đêm qua, nhưng sốt lên rất nhanh, và mỗi lần nó thở ra, hơi thở đều mang theo tiếng khò khè nhỏ trong cổ.

- Hạ sốt lúc nãy chỉ là lúc nó rút tay về, thầy Mùi nói từ cửa buồng. Đứa bé được trả lại hơi thở, nhưng chưa được trả lại sự yên ổn. Bảy ngày, anh Tư ạ. Tôi nói rõ để anh không mừng hụt lần nữa. Trong bảy ngày tới, phải mở được giếng nhà tổ, phải đưa hài cốt người ta lên, phải lập đàn sám hối công khai và cải táng nhập nghĩa trang dòng họ. Làm thiếu một việc, hoặc làm qua loa cho xong, đều không dứt.

- Bảy ngày tính từ hôm nay?

- Từ hôm nay. Đến hết ngày hai mươi ba. Quá hạn ấy, tôi không dám nói gì nữa.

Mây ôm con, nước mắt rơi xuống tóc đứa bé. Bà đã đi qua một đêm tưởng là cuối cùng, để rồi sáng hôm sau nghe rằng trước mặt còn bảy ngày nữa, và kẻ địch lần này không phải cánh tay ngoài cửa sổ, mà là cánh cổng khóa chặt của nhà tổ và sự im lặng của cả một dòng họ.

- Lần này không phải giữ con bằng kiếm nữa, bà nói khẽ. Lần này phải giữ con bằng miệng người ta. Phải làm cho họ mở cổng.

Tư nhìn vợ, rồi nhìn thầy. Ông hiểu ý bà. Kiếm đã làm phần của kiếm. Cành dâu đã làm phần của cành dâu. Từ giờ, trận chiến chuyển từ buồng đẻ ra sân nhà tổ, từ đêm tối ra giữa ban ngày, từ quỷ ra người. Và trong trận ấy, ông không có trận đồ nào vẽ sẵn dưới chân. Ông chỉ có sự thật, có chiếc lược sừng của Gấm mà các cụ già đã trao, có lời kể của bà lão mù, có đứa con đang sốt trong tay vợ, và có một người trưởng họ đã giữ bí mật của cha mình suốt mấy chục năm.

Ông mặc chiếc áo đã rách vai, lấy khăn che lại vết thương, rồi đứng lên.

- Tôi lên nhà tổ ngay hôm nay. Tôi xin lập đàn sám hối và mở giếng. Nói tử tế trước. Nếu họ không nghe, tôi sẽ nói cách khác.

Thầy Mùi giữ tay ông lại.

- Khoan. Hôm nay đứa bé còn cần anh ở nhà khi cơn sốt lên xuống. Mai hẵng đi, và đi phải có chuẩn bị. Anh lên đó không phải để đánh nhau. Anh lên để xin cả họ nhận lại một người đã bị xóa tên. Lời anh nói phải có người làm chứng, có vật chứng đi cùng. Đem theo chiếc lược sừng. Đem theo lời của bà lão mù và các cụ đã kể chuyện. Và đem theo cả sự thật này: đứa bé đã qua đêm trăm mà vẫn sốt, đúng như luật nợ chưa trả.

Tư gật đầu, nhưng mắt ông vẫn hướng về phía nhà tổ, nơi phiến đá trên miệng giếng sau nhà vẫn nằm im như một nắp đậy trên miệng của nửa thế kỷ.

Buổi trưa hôm ấy, Khang hạ sốt được một lúc ngắn rồi lại nóng lên. Cứ như thế, sốt lên, hạ xuống, rồi lại lên cao hơn một chút. Bà Hai Lựu nói trẻ con sốt như vậy là người nó đang đánh nhau với cái hơi lạ trong mình. Bà Sen nấu nước lá cho cháu lau người, thay khăn liên tục. Mây không rời giường nửa bước. Bà ăn cơm do mẹ đưa tận tay, ăn mà mắt vẫn nhìn con, như sợ chỉ cần quay đi một lúc là sốt sẽ mang con bà đi theo cách khác với ba lần trước, chậm hơn, dai dẳng hơn, và vì thế cũng tàn nhẫn hơn.

Tư ghi vào cuốn sổ đếm ngày của mình một dòng mới. Cuốn sổ ấy đã ghi một trăm ngày của Khang, mỗi ngày một dòng, có ngày ghi tiếng khóc giờ Tý, có ngày ghi cơn sốt ngày thứ năm mươi lăm, ngày thứ bảy mươi, có ngày chỉ ghi một chữ yên. Nay ông mở một trang mới, viết ở đầu trang: bảy ngày. Rồi ông kẻ bảy ô trống. Ô đầu tiên ông đánh dấu khi nghe thầy nói dứt câu.

- Bảy ngày này không đếm như đếm đến đêm trăm nữa, ông nói với vợ. Đếm đến đêm trăm là chờ quỷ đến. Bảy ngày này là mình phải đi trước nó. Mình chậm một ngày là con mất một phần sức.

Thầy Mùi ở lại nhà thêm một đêm nữa để theo dõi cơn sốt. Thầy dặn Tư những việc phải làm trong chuyến lên nhà tổ ngày mai: nói rõ tên Đinh Thị Gấm, nói rõ năm một nghìn tám trăm tám mươi tư, nói rõ yêu cầu mở giếng và lập đàn sám hối tại nhà tổ chứ không phải cúng riêng trong nhà Tư, vì nợ là nợ của cả họ, sám hối lén lút trong một nhà không đủ. Thầy cũng dặn ông mang theo gia phả chép tay của cha mình, cuốn gia phả thiếu một trang, để đặt cạnh chiếc lược sừng mà nói: một cuốn sách thiếu tên người ta, một vật của người ta còn giữ được đến nay, hai thứ ấy tự chúng đã kể gần hết câu chuyện.

Tư lấy gia phả ra, bọc lại trong vải, đặt cùng lược sừng vào chiếc khăn tay sạch. Bàn tay ông chạm vào trang giấy cũ nơi phần về cụ cố nội bị xé mất. Mép giấy xé vẫn còn răng cưa, vàng và giòn. Cha ông đã viết ở cuối sổ: nợ nhà này chưa trả. Nửa thế kỷ, câu ấy nằm trong tay một thầy đồ nghèo, không quyền, không tiếng nói trong họ. Ngày mai ông sẽ mang nó ra giữa sân nhà tổ.

Thầy Mùi đứng dậy, đi vào buồng nhìn Khang lần nữa, rồi quay ra nói câu mà cả nhà sẽ phải mang theo trong bảy ngày tới, từng chữ nặng như đá đặt lên ngực Tư:

- Muốn cứu con, phải mở được cái giếng nhà tổ.

Chương khác

Xem thêm