Vệt Sét Đầu Làng - Chương 1: Tiếng sét nửa đêm
Mùi khét xộc vào trước cả tiếng sấm. Ông Hai Thành đang ngủ say thì cái mùi lạ ấy len qua khe cửa gỗ, chui thẳng vào mũi ông như một mũi kim nung đỏ. Mùi…
Nội dung chương
Mùi khét xộc vào trước cả tiếng sấm.
Ông Hai Thành đang ngủ say thì cái mùi lạ ấy len qua khe cửa gỗ, chui thẳng vào mũi ông như một mũi kim nung đỏ. Mùi khét của dây điện cháy, mùi của không khí bị xé toạc, nồng đến mức ông tưởng nhà mình bốc hỏa. Ông bật dậy, chân chạm nền gạch lạnh ngắt, tai ông nghe rõ tiếng gió ngoài kia đang đập vào cánh cửa ván rầm rập như có ai dùng hai bàn tay đấm liên hồi.
- Bà nó ơi, có mùi gì khét quá.
Không có tiếng trả lời. Bà Hai mất đã ba năm, ông quên mất. Ông Hai Thành ngồi thừ ra một lúc trên mép giường, hai bàn tay xoa vào nhau cho ấm, rồi đứng dậy lần mò cây đèn pin. Ngoài kia, cơn bão trái mùa đang quần thảo cù lao An Thạnh như một con thú dữ bị nhốt trong lồng. Mưa quất vào mái tôn rào rào, nước tràn qua hiên chảy thành dòng, mùi bùn sông từ phía bến đò dâng lên nồng nặc, lẫn trong đó là cái mùi khét kỳ quái kia, mỗi lúc một đậm.
Con Vàng, con chó nhà ông, đang nằm cuộn tròn dưới gầm giường. Nó ngẩng đầu lên, hai tai dựng đứng, mắt long lanh trong bóng tối. Rồi nó tru lên, một hồi dài, não nề, tiếng tru cứ lên cao mãi rồi đứt ngang như sợi dây bị cắt. Ông Hai chưa kịp quát nó im thì nó đã cụp đuôi, rúc sâu vào góc tường, toàn thân run lên bần bật.
- Vàng! Mày làm sao vậy hả?
Ông Hai rọi đèn pin xuống gầm giường. Con chó không nhìn ông. Mắt nó dán chặt ra phía cửa, đồng tử giãn to, miệng rên ư ử như đứa trẻ sắp khóc. Lông gáy nó dựng đứng hết cả lên. Ông Hai Thành chèo đò ở cái bến này đã hơn bốn mươi năm, nuôi chó cũng ngần ấy năm, ông chưa bao giờ thấy con Vàng sợ đến thế. Nó là con chó gan lì, đêm nào nghe trộm cũng sủa ầm ĩ, vậy mà giờ đây nó run như cầy sấy.
Rồi tiếng sét nổ.
Không phải tiếng sấm rền từ xa như mọi khi. Đây là một tiếng nổ ngay trên đỉnh đầu, như trời vừa bị ai đó đập vỡ tan. Cả căn nhà rung lên, cây đèn pin trong tay ông Hai suýt rơi, mấy tấm hình thờ trên bàn thờ ông bà rung rinh. Con Vàng rú lên một tiếng thảm thiết rồi chui tót vào góc sâu nhất của gầm giường, không dám thò đầu ra nữa.
Ông Hai Thành lảo đảo vịn vào thành giường. Tim ông đập thình thịch. Ông sống ở đầu bến đò này cả đời, nghe sấm sét không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa có tiếng sét nào gần đến thế, dữ đến thế. Nó như đánh thẳng xuống mái nhà ông vậy.
Rồi ông nghe thấy tiếng cây nứt.
Rặc... rặc... rặc...
Tiếng nứt vỡ kéo dài, chậm rãi, từng nhịp một, như tiếng xương người đang bị bẻ gãy từng khúc. Ông Hai Thành rùng mình. Tiếng ấy phát ra từ phía bến đò, từ phía cây đa trăm năm đứng sừng sững ở đầu bến từ hồi ông còn là thằng nhóc chăn trâu. Ông biết rõ từng âm thanh của cây đa ấy: tiếng lá xào xạc khi gió lên, tiếng rễ cọ vào đá khi nước ròng, tiếng chim về tổ chiều chiều. Nhưng tiếng nứt vỡ này, ông chưa từng nghe bao giờ.
Ông lết ra cửa sổ, run run hé một khe nhỏ. Gió thốc vào mặt ông mang theo hơi nước lạnh buốt và cái mùi khét càng lúc càng nồng. Ông nheo mắt nhìn về phía bến đò.
Một tia chớp tím rạch ngang bầu trời, sáng lòa cả một góc cù lao. Trong ánh sáng ấy, ông Hai Thành thấy rõ cây đa đầu bến. Một vệt sáng trắng xanh chạy dọc từ ngọn xuống gốc, và ngay sau đó, nửa thân cây bên trái đổ ập xuống với tiếng động kinh thiên động địa.
Nhưng đó chưa phải điều làm ông Hai đứng tim.
Trên thân cây còn lại, ngay chỗ vết nứt vừa bị sét đánh, một cột lửa bùng lên. Lửa màu xanh lè, xanh như lửa ma trơi ngoài nghĩa địa, xanh như màu đồng bị nung chảy. Cơn mưa đang đổ như trút nước, mưa quất xối xả vào thân cây, vậy mà ngọn lửa xanh ấy vẫn cháy, cháy ngùn ngụt, không hề lay động, không hề tắt, cũng không hề bốc khói.
Ông Hai Thành há hốc miệng. Ông dụi mắt, tưởng mình nhìn nhầm. Nhưng không, ngọn lửa xanh vẫn ở đó, liếm quanh vết nứt trên thân cây đa, soi sáng cả một khoảng bến đò trong đêm mưa đen kịt. Ánh sáng xanh lè ấy hắt lên mặt nước sông Tiền, mặt sông gợn sóng lăn tăn ánh xanh như có hàng ngàn con đom đóm đang bơi.
- Trời đất ơi...
Ông Hai lẩm bẩm, tay run đến mức suýt đánh rơi cây đèn pin. Ông vội đóng sập cửa sổ lại, cài then thật chặt, rồi quay vào nhà, miệng không ngớt khấn:
- Thần Mộc thương con, Thần Mộc thương con, con không làm gì nên tội, Thần Mộc thương con...
Nhưng dù đã đóng kín cửa, cái mùi vẫn len vào. Mùi khét của ozone, mùi tanh của lưu huỳnh như mùi trứng thối để lâu ngày, và lẫn trong đó là mùi nhựa đa cháy, ngai ngái, hăng hắc, xộc thẳng lên óc. Ông Hai Thành ho sặc sụa, vội lấy chiếc khăn rằn bịt mũi lại. Con Vàng dưới gầm giường vẫn run, tiếng rên ư ử của nó nhỏ dần như thể nó cũng sợ cả việc phát ra tiếng động.
Ông Hai ngồi phịch xuống ghế, hai tay ôm đầu. Trong đầu ông quay cuồng hàng trăm ý nghĩ. Cây đa đầu bến là cây thiêng của cả cù lao. Hơn trăm năm nay nó đứng đó, che mát cho bến đò, người làng đi qua đều chắp tay vái. Ông bà xưa dặn: cây đa là Thần Mộc, động vào là rước họa. Vậy mà đêm nay, trời đánh chẻ đôi nó. Trời đánh cây thiêng là điềm gì? Là Thần Mộc nổi giận? Hay là trời đang trừng phạt chuyện gì mà cả làng không biết?
Ông run run cầm lấy chiếc điện thoại cục gạch, bấm số thằng con trai. Nhà nó ở bên kia bến, cách nhà ông một quãng sông. Chuông reo mấy hồi mới có người bắt máy, giọng ngái ngủ:
- Alo, ba hả? Có chuyện gì mà gọi giờ này?
- Thằng Ba hả? Mày nghe ba dặn nè. Đêm nay, tuyệt đối không được ra bến đò. Nghe chưa? Tuyệt đối không!
- Sao vậy ba? Mưa bão thế này ai mà ra bến...
- Ba nói không là không! Sét mới đánh chẻ đôi cây đa rồi! Mày ở yên trong nhà, đóng chặt cửa lại, đừng có tò mò ra xem! Nghe lời ba!
Đầu dây bên kia im lặng một lúc, rồi giọng thằng Ba tỉnh hẳn:
- Ba nói thiệt hả ba? Sét đánh cây đa?
- Thiệt! Ba thấy tận mắt! Mày nhớ dặn vợ con mày nữa, đêm nay không ai được ra bến. Sáng mai tính sau.
Ông Hai cúp máy, thở dốc. Ngoài kia, mưa vẫn đổ, gió vẫn gào, nhưng tiếng sấm đã thưa dần, như thể cơn thịnh nộ của trời đã trút xong nhát búa đầu tiên. Ông ngồi lặng đi một lúc lâu, lắng nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn, tiếng gió rít qua khe cửa, tiếng con Vàng thở hổn hển dưới gầm giường.
Rồi, trong một lúc gió lặng, ông nghe thấy nó.
Tiếng khóc.
Từ phía bến đò, lẫn trong tiếng mưa rào rào, vọng lại tiếng ai đó đang khóc nức nở. Tiếng khóc của một người phụ nữ, não nề, đứt quãng, lúc to lúc nhỏ như bị gió xé vụn. Ông Hai Thành nín thở, dỏng tai nghe. Tiếng khóc vẫn đó, rõ mồn một, không thể nhầm được.
Ai lại ra bến đò khóc giữa đêm mưa bão thế này? Giữa lúc cây đa vừa bị sét đánh, lửa xanh còn đang cháy?
Da gà da vịt nổi khắp người ông Hai. Ông không dám mở cửa sổ ra nhìn nữa. Ông chỉ ngồi đó, co ro trên ghế, bịt chặt tai lại, miệng lẩm bẩm khấn Thần Mộc không ngớt. Nhưng tiếng khóc ấy cứ len qua kẽ tay ông, len vào tận óc, não nề như tiếng ai oán của người chết oan.
Ông Hai Thành nhớ lại hồi mình còn nhỏ, bà nội ông từng kể rằng cây đa đầu bến không phải tự nhiên mà có. Hồi cù lao này còn hoang vu, một mình nó mọc lên giữa bãi bồi, rễ bám chặt vào đất như bàn tay khổng lồ níu giữ cả doi đất khỏi bị nước cuốn trôi. Người làng tin rằng trong gốc đa có thần ngự, ai đi đò qua cũng phải chắp tay vái một vái mới yên tâm. Bản thân ông, mỗi lần chèo đò qua bến lúc trời tối, đều lẩm bẩm khấn một câu rồi mới dám cắm sào.
Có lần, hồi ông Hai mới ngoài ba mươi, một đám thanh niên say rượu từ chợ về, đái bậy ngay gốc đa rồi cười hô hố. Sáng hôm sau, cả ba đứa đều nổi mẩn đỏ khắp người, ngứa đến mức phải bò ra bến van vái xin tha. Từ đó, không ai dám hỗn với cây đa nữa. Người làng còn lập một cái miếu nhỏ dưới gốc, khói hương quanh năm không tắt.
Vậy mà đêm nay, chính trời lại đánh chẻ đôi nó. Ông Hai không hiểu nổi. Nếu cây đa có thần, sao thần không tránh được sét? Hay là... thần đã bỏ đi rồi, bỏ lại cái xác cây cho trời đánh? Ý nghĩ ấy làm ông ớn lạnh hơn cả tiếng khóc ngoài bến.
Tiếng mưa ngoài hiên bỗng ngớt dần. Ông Hai hé mắt nhìn qua khe cửa. Phía bến đò, ánh lửa xanh vẫn còn le lói, hắt lên màn mưa một quầng sáng ma quái. Mùi nhựa đa cháy quyện với mùi lưu huỳnh tanh nồng, ông ngửi mà cổ họng cứ nghẹn lại, như có ai bóp nhẹ.
Ông chợt nhớ đến bà Hai. Hồi bà còn sống, mỗi lần giông bão bà đều ngồi niệm Phật, tay lần tràng hạt, miệng dặn ông đừng ra sông. Giờ bà đi rồi, căn nhà chỉ còn ông với con Vàng. Ông nhìn xuống gầm giường, con chó vẫn nằm im, mắt mở thao láo trong bóng tối, không dám nhắm lại. Ông thấy thương nó, mà cũng thấy thương chính mình. Già rồi, ở đầu bến heo hút này, có chuyện gì thì kêu ai?
Tiếng khóc ngoài bến bỗng im bặt. Ông Hai nín thở lắng nghe. Chỉ còn tiếng mưa, tiếng gió, và tiếng lửa cháy xèo xèo đâu đó xa xa. Rồi, rất khẽ, như một hơi thở dài, tiếng khóc lại vang lên một lần nữa, rồi tắt hẳn trong tiếng mưa rào rào.
Đêm ấy, ông Hai Thành thức trắng đến sáng, không dám chợp mắt. Và đến tận nhiều năm sau, mỗi khi nhớ lại đêm bão trái mùa ấy, ông vẫn còn nghe rõ trong tai mình tiếng khóc nức nở ngoài bến đò, lẫn trong tiếng mưa, tiếng gió. Mùi khét của ozone cháy thì chưa bao giờ tan hết trong ký ức của ông.