Vực Đáy Đập Thủy Điện - Chương 1: Vực Sâu Thức Giấc
Mặt hồ thủy điện Sơn La vào tuần thứ hai của tháng Chín phẳng lặng như một tấm kính đen trải rộng giữa hai bờ vách đá vôi xám xịt. Nhìn từ lan can đài…
Nội dung chương
Mặt hồ thủy điện Sơn La vào tuần thứ hai của tháng Chín phẳng lặng như một tấm kính đen trải rộng giữa hai bờ vách đá vôi xám xịt. Nhìn từ lan can đài quan sát ở cao trình hai trăm mười lăm mét, khối bê tông trọng lực khổng lồ ngăn dòng sông Đà sừng sững như một pháo đài nhân tạo cắm chặt vào lòng núi Tây Bắc. Khối kiến trúc nuốt trọn hàng triệu mét khối nước, biến con sông hung dữ bậc nhất miền Bắc thành một túi tích năng lượng khổng lồ.
Gió thu mang theo hơi ẩm ngai ngái thốc ngược từ hạ lưu lên mặt tôi rát buốt. Tôi là Trần Viết Hải, ba mươi tám tuổi, chuyên viên thẩm định rủi ro kỹ thuật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN. Tôi đã dành mười hai năm cuộc đời bám trụ các công trường thủy điện, từ bậc thang Lai Châu ngược lên thượng nguồn cho đến Hòa Bình xuôi về hạ lưu. Tôi quen với mùi dầu mỡ máy công nghiệp, tiếng gầm rú của dòng nước xé toạc van xả mặt, và nhịp rung lắc truyền từ lõi tuabin vào tận xương tủy mỗi khi chạy đầy tải.
Nhưng cuộc gọi khẩn cấp vào lúc bốn giờ sáng từ Ban Giám đốc Nhà máy Thủy điện Sơn La không liên quan đến sự cố hòa lưới điện quốc gia.
Họ mất một tổ thợ lặn ở độ sâu sáu mươi mét, ngay trước ngưỡng cửa van đáy số ba.
Tôi bước vào phòng điều hành trung tâm của nhà máy. Không gian rộng lớn đầy màn hình hiển thị thông số SCADA nồng nặc mùi cà phê hòa tan đặc quánh và khói thuốc lá. Ba kỹ sư ca trực ngồi bất động trước cụm đồng hồ đo áp lực nước thượng lưu. Trên màn hình trung tâm, biểu đồ mực nước dâng hiển thị mức hai trăm mười bốn phẩy tám mét, sát sạt ngưỡng tích nước tối đa cho phép trước đợt bảo trì xả lũ định kỳ mùa mưa bão.
Nguyễn Văn Thành, Phó Giám đốc Kỹ thuật của nhà máy, quay ngoắt lại khi tiếng giày bảo hộ của tôi nện trên sàn gạch men. Đôi mắt ông ta đỏ ngầu những tia máu, râu ria lởm chởm sau hai đêm thức trắng. Trên bàn làm việc bừa bãi những tập bản vẽ hoàn công và sơ đồ tuyến cáp ngầm.
"Anh Hải, bên thẩm định rủi ro của Tập đoàn ép tiến độ quá gắt," Thành nói, giọng khàn đặc vì mất ngủ. "Lịch xả lũ định kỳ rơi vào sáng thứ Sáu. Chúng tôi phải mở cửa van đáy để xả bùn cát bồi lắng theo quy trình. Nhưng hai mươi tư giờ qua, mọi thứ tắc nghẽn hoàn toàn ở khoang số ba."
Tôi đặt chiếc cặp tài liệu bằng nhôm xuống bàn, rút tập hồ sơ kỹ thuật vừa in lúc rạng sáng: "Đội thợ lặn của Công ty Cổ phần Thi công Ngầm Sông Đà xuống từ lúc nào?"
"Mười ba giờ chiều qua," Thành run rẩy châm một điếu thuốc, bàn tay kẹp điếu đóm giật giật từng cơn. "Tổ lặn gồm hai người, thợ chính Đặng Thế Lâm và thợ phụ Lê Bá Tùng. Cả hai đều có chứng chỉ lặn kỹ thuật nước sâu, sử dụng bộ đồ lặn áp lực hỗn hợp Heliox. Nhiệm vụ của họ chỉ là kiểm tra ray trượt của cánh van phẳng số ba xem có bị kẹt rác hay thanh gỗ trôi dạt sau trận lũ tuần trước hay không. Dự kiến thời gian thao tác dưới đáy là bốn mươi lăm phút."
"Thời điểm mất tín hiệu liên lạc?" Tôi hỏi, mắt quét nhanh qua nhật ký vận hành ghi chép bằng bút bi xanh.
"Mười ba giờ ba mươi hai phút. Dây dẫn rốn khí nén và cáp truyền âm thanh bị giật đứt ngọt sớt ở độ sâu năm mươi tám mét. Hệ thống giám sát dưỡng khí trên sà lan báo áp suất tụt về con số không trong vòng chưa đầy hai giây."
Tôi nhíu mày. Với tư cách một PADI Divemaster từng lặn khảo sát móng trụ cầu ở độ sâu tám mươi mét ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, tôi hiểu rõ kết cấu của dây rốn thợ lặn công nghiệp. Ống dẫn khí chịu áp lực cao bọc sợi kevlar và dây tín hiệu bọc thép chống mài mòn không thể bị đứt ngang xương chỉ bằng sự cố vướng rác hay va đập thông thường. Áp suất nước ở độ sâu sáu mươi mét xấp xỉ bảy bar, tương đương với bảy kilôgam lực ép lên mỗi centimet vuông bề mặt cơ thể. Ở tầng đáy đó, nước sông Đà đen đặc, tầm nhìn qua kính lặn không quá nửa sải tay, và nhiệt độ hạ xuống dưới mười lăm độ C. Bất kỳ sự cố rách vỡ khí nén nào cũng biến thợ lặn thành một khối thịt vụn bị nghiền nát trong tích tắc.
"Các anh đã thả thiết bị lặn không người lái xuống chưa?" Tôi hỏi dồn.
Thành hít một hơi thuốc dài, nhả khói lên trần nhà rồi gật đầu nặng nề: "Chúng tôi lập tức điều con robot ROV năm trăm mét của trạm quan trắc địa kỹ thuật xuống. Nó tiếp cận cửa van lúc hai mươi giờ đêm qua. Nhưng..."
Thành dừng lại, ngập ngừng nhìn quanh như sợ những kỹ sư trực ban nghe thấy, dù họ đều đang cắm mặt vào bàn điều khiển với vẻ mặt căng thẳng tột độ. Ông ta vẫy tay bảo tôi đi theo.
Chúng tôi bước vào phòng phân tích dữ liệu hình ảnh nằm biệt lập ở cuối hành lang kỹ thuật. Căn phòng tối om, rèm cửa sổ kéo kín mít ngăn ánh sáng ban ngày. Kỹ sư phụ trách trạm cứu hộ ngầm đang ngồi trước màn hình phụ trợ có độ phân giải cao. Trên bàn là một mẩu dây cáp truyền dẫn đường kính bốn mươi milimét bị cắt đứt nham nhở, lõi đồng và sợi chịu lực tưa ra như bị một hàm răng cơ khí khổng lồ nghiến nát.
"Mở lại đoạn ghi hình lúc hai mươi giờ bốn mươi phút cho anh Hải xem," Thành ra lệnh bằng giọng trầm đục.
Kỹ sư trẻ run rẩy bấm phím cách. Màn hình phát sáng, hiển thị góc nhìn từ camera chính của robot ROV. Hai chùm đèn LED công suất cao của thiết bị chỉ soi sáng được một khoảng không gian hình nón bán kính khoảng hai mét trước mũi tàu ngầm mi-ni. Nước sông Đà ở tầng đáy đục ngầu phù sa lơ lửng, tạo thành những vệt bụi sáng li ti cuộn xoáy theo dòng chảy ngầm.
Robot lặn từ từ men theo bức tường bê tông thẳng đứng của thân đập. Những khối bê tông đồ sộ phủ đầy rêu đen và lớp trầm tích ba mươi năm qua hiện ra mờ mờ. Thước đo độ sâu trên góc trái màn hình nhảy số liên tục: bốn mươi lăm mét... năm mươi mét... năm mươi tám mét.
Khi robot hạ độ cao xuống đáy đập, khung cảnh cửa van xả đáy số ba lộ diện. Cánh van thép nặng hàng trăm tấn đang đóng chặt trên bệ đỡ, nhưng ở khe hở bên dưới ray dẫn hướng, một vật thể màu vàng cam nổi bật giữa bùn đen. Đó là bình dưỡng khí khẩn cấp của thợ lặn Đặng Thế Lâm. Bình thép bị móp méo một bên, van xả gãy gập. Dây đai an toàn bằng vải sợi tổng hợp bị xé toạc, trôi dập dờn theo luồng nước rò rỉ qua gioăng cao su.
"Không tìm thấy thi thể," Thành thì thào bên tai tôi. "Chúng tôi rà soát bán kính năm mươi mét xung quanh cửa lấy nước suốt ba tiếng đồng hồ. Không có một mảnh quần áo lặn, không có dấu vết trôi dạt về phía lưới chắn rác của tuabin."
Tôi ghé sát mắt vào màn hình, chăm chú quan sát bề mặt bùn đáy xung quanh cửa xả. Lớp bùn lắng dày cả mét không hề có dấu vết xáo trộn của chân vịt thợ lặn, mà in hằn một rãnh trượt dài, sâu hoắm, kéo thẳng từ khe hở chân đập hướng về phía vách núi phía đông lòng hồ.
"Chỗ rãnh trượt này dẫn đi đâu?" Tôi chỉ tay vào góc màn hình.
Kỹ sư phụ trách hình ảnh ngập ngừng: "Về phía hang Kẻ Lằn. Ba mươi năm trước khi ngăn sông đắp đập, khu vực đó là một hệ thống hang động đá vôi ngầm ăn sâu vào dãy núi đá sau lưng bản Mường cũ. Khi hồ chứa tích nước, toàn bộ mạng lưới hang đó bị nhấn chìm ở độ sâu sáu mươi mét. Trên bản đồ địa chất công trình, chúng tôi đánh dấu đó là vùng castơ rỗng, đã được bơm vữa xi măng bịt miệng hang chính. Nhưng áp lực nước qua ba thập kỷ có thể đã làm sập các vách ngăn phụ."
Đúng lúc đó, trên màn hình ghi hình của ROV, luồng bụi nước bất thần cuộn ngược lại. Những hạt phù sa lơ lửng bỗng nhiên đổi hướng di chuyển, lao vun vút từ bóng tối phía ngoài tầm đèn rọi về phía thân robot, hệt như có một lực hút cực mạnh vừa hình thành trong lòng vực sâu.
Con robot ROV nặng sáu mươi kilôgam chao đảo dữ dội. Cảm biến con quay hồi chuyển phát ra tiếng bíp bíp cảnh báo mất thăng bằng. Đèn pha chiếu rọi vào khoảng không đen ngòm thăm thẳm trước mặt.
Từ vùng tối đen như mực ngoài tầm với của ánh sáng đèn LED, một chuyển động lướt qua.
Tôi nín thở. Khớp ngón tay tôi bấu chặt vào mép bàn gỗ ép.
Chuyển động ấy diễn ra với tốc độ kinh hoàng đối với một môi trường nước sâu chịu áp suất bảy bar. Nó không mang hình dạng chuyển động giật cục của máy móc thủy lực, cũng không phải sự lắc lư thụ động của cây gỗ mục trôi dạt. Đó là một đường cong uốn lượn mềm mại, dẻo quạnh và đầy uy lực.
Một mảng bề mặt rộng lớn quét ngang qua góc trên của khung hình. Dưới ánh đèn LED trắng lóa của robot, thứ đó phản chiếu những ánh kim loại lấp lánh màu xám thép tôi, xếp lớp chồng lên nhau như những tấm khiên vảy cá khổng lồ, mỗi phiến vảy to bằng bàn tay người lớn, viền mép ánh lên sắc đen nhờn bóng của chất dịch nhầy.
Ngay phía trên mảng vảy ấy, một vệt mào đỏ rực như than hồng cháy dở trong bóng tối lướt vụt qua thấu kính camera. Sắc đỏ gắt gao, ma quái xé toạc màn nước đục ngầu, để lại một luồng xoáy nước cực mạnh hất tung con robot lộn nhào ba trăm sáu mươi độ.
Màn hình camera giật nảy, nhiễu hạt trắng xóa rồi tắt phụt thành một màu đen tuyệt đối. Dòng chữ đỏ "SIGNAL LOST - DEPTH 61.2M" nhấp nháy cô độc trên nền tối.
"Đoạn băng kết thúc ở đó," kỹ sư trẻ nói, giọng run rẩy như sắp khóc. "Sau cú va chạm đó, con ROV mất hoàn toàn tín hiệu điều khiển. Cáp tín hiệu bị giật đứt ngang. Đêm qua chúng tôi dùng tời kéo được xác robot lên sà lan."
"Xác robot đâu?" Tôi quay sang Thành, lồng ngực đập dồn dập. Bản năng của một kỹ sư và một thợ lặn mách bảo tôi rằng đây không còn là một tai nạn lao động hay một sự cố đứt gãy kết cấu đơn thuần.
"Để ở xưởng cơ khí ngầm tầng âm hai," Thành nói, gạt tàn thuốc rồi dẫn tôi rời khỏi phòng điều hành.
Chúng tôi đi xuống thang máy kỹ thuật sâu hun hút vào lòng thân đập bê tông. Không khí mỗi lúc một lạnh và ẩm ướt hơn. Tiếng gầm rú trầm đục của sáu tổ máy phát điện công suất hai nghìn bốn trăm megawatt dội qua những bức tường dày hàng mét, biến thành những rung chấn chạy râm ran dưới lòng bàn chân. Đây là nhịp đập của trái tim công trình, cỗ máy khổng lồ đang ngày đêm cấp điện cho nửa đất nước, nhưng lúc này, nhịp rung ấy dường như đang kích động một thứ gì đó nằm phục dưới đáy vực sâu.
Xưởng cơ khí ngầm sáng choang ánh đèn huỳnh quang. Trên sàn bê tông loang lổ dầu mỡ, xác con robot ROV nằm trơ trọi trên một tấm bạt dứa.
Khung bảo vệ bằng hợp kim titan siêu nhẹ, được thiết kế để chịu được va đập dưới độ sâu hàng trăm mét nước, bị bẻ cong gập lại như một thanh thiếc mỏng. Vỏ bọc camera bằng kính thạch anh dày ba phân vỡ vụn thành ngàn mảnh nhỏ. Nhưng điều khiến gáy tôi lạnh toát là những vết cào xước sâu hoắm trên thân máy. Bốn rãnh xé song song, mỗi rãnh rộng chừng hai đốt ngón tay, cày sâu vào lớp kim loại chịu lực, mép vết rách quăn ngược ra ngoài như thể bị xé toạc bởi một bộ móng vuốt có lực ép hàng chục tấn.
Bám chặt trong các khe nứt của vỏ kim loại là một lớp màng nhầy màu xám tro, sền sệt và không hề bị hòa tan dù đã nằm ngoài không khí suốt mười tiếng đồng hồ.
Tôi đeo găng tay cao su chuyên dụng, rút con dao nhíp kỹ thuật cạo một mảng dịch nhầy đưa lên sát mũi. Một mùi tanh nồng nặc lập tức xộc vào khứu giác. Mùi tanh này khác hẳn mùi cá chết hay rong rêu thối rữa dưới lòng hồ. Nó mang vị mặn chát của bùn khoáng cổ đại, mùi ngai ngái của chất bài tiết loài bò sát khổng lồ, pha lẫn một mùi kim loại gỉ sét nồng đậm đến mức khiến cuống họng tôi buồn nôn cồn cào.
"Bên phòng thí nghiệm hóa nghiệm nước đã lấy mẫu chưa?" Tôi ngẩng lên nhìn Thành.
"Lấy rồi," Thành thở dài, nét mặt co rúm lại. "Kết quả sơ bộ cho thấy đây là một loại hợp chất hữu cơ có chuỗi protein ngoại lai cực kỳ phức tạp, liên kết phân tử dày đặc gấp ba lần dịch nhầy của cá tầm hay cá chình sông Đà. Các kỹ sư hóa sinh không thể định danh được loài sinh vật nào trong hệ thống sinh thái nước ngọt nội địa có cấu trúc dịch nhầy như thế này."
"Và Ban Giám đốc vẫn muốn tiếp tục quy trình xả lũ vào sáng thứ Sáu?" Tôi gằn giọng, đứng thẳng dậy lột chiếc găng tay vứt vào thùng rác.
Thành nhìn tôi, ánh mắt lộ rõ vẻ bất lực lẫn sợ hãi: "Anh Hải, anh công tác ở Tập đoàn anh thừa biết quy chế an toàn hồ chứa mùa lũ. Lượng nước từ thượng nguồn Vân Nam đổ về đang tăng với lưu lượng ba nghìn mét khối một giây. Nếu không mở cửa van đáy số ba để hạ bớt áp lực thủy tĩnh lên chân đập, toàn bộ thân đập sẽ phải chịu tải trọng vượt ngưỡng tính toán thiết kế. Nếu van đáy kẹt, chúng ta chỉ còn cách xả tràn mặt, mà xả tràn đột ngột ở lưu lượng đỉnh sẽ đe dọa trực tiếp an toàn của thủy điện Hòa Bình và vùng đồng bằng sông Hồng phía hạ du. Ban Giám đốc coi hình ảnh trong đoạn băng chỉ là một thân cây cổ thụ ngâm bùn nhiều năm bị dòng xoáy cuốn va vào robot. Họ không chấp nhận giả thuyết về một sinh vật sống ở độ sâu đó."
"Cây gỗ mục nào có mào đỏ và xé nát hợp kim titan dày hai mươi phân bằng móng vuốt?" Tôi chỉ thẳng vào xác con ROV méo mó. "Các anh đang đánh cược sinh mạng của toàn bộ thợ lặn và sự an toàn của công trình quốc gia này vào một sự dối trá để giữ tiến độ!"
Thành im lặng. Tiếng nước gầm qua đường ống áp lực của tổ máy số một bên cạnh vọng sang rền rĩ như tiếng gầm của một con thú dữ bị giam cầm trong lồng sắt. Bức tường bê tông cốt thép dày mười mét sau lưng chúng tôi dường như đang run rẩy nhẹ trước một lực xô đẩy vô hình từ lòng vực nước sáu mươi mét bên ngoài.
"Vậy anh định thẩm định vụ này thế nào?" Thành hỏi sau một hồi im lặng kéo dài. "Báo cáo của anh gửi về Tập đoàn sẽ quyết định việc hoãn xả lũ hay ép tiến độ."
Tôi nhìn vào mẩu dây cáp đứt nham nhở đặt trên bàn, rồi nhìn ra khoảng tối hun hút của hành lang kỹ thuật dẫn thông ra mố đập thượng lưu. Trong đầu tôi hiện rõ mồn một hình ảnh mảng vảy xám thép lấp lánh và vệt mào đỏ rực lướt qua trong bóng tối sâu thẳm. Có một khoảng trống khổng lồ nằm giữa những con số tính toán cơ học thủy lực của Đại học Bách khoa và thực tế rùng rợn đang cựa mình dưới đáy hồ chứa này. Ba mươi năm trước, khi dòng sông Đà bị chặn lại, con người đã dùng hàng triệu tấn xi măng để phong tỏa một thung lũng, nhấn chìm những bản làng, những cánh rừng và cả những hang động ngầm nghìn năm tuổi vào bóng tối vĩnh cửu. Và đáy nước ấy chưa bao giờ thực sự thuộc về chúng tôi.
"Trước khi tôi đặt bút ký vào biên bản thẩm định rủi ro kỹ thuật để các anh kích hoạt cửa van đáy," tôi nói chậm rãi từng chữ, "tôi cần một người hiểu rõ đáy sông này trước ngày đắp đập."
Thành chớp mắt: "Ý anh là ai? Các chuyên gia của Viện Thủy điện đã về hưu hết rồi."
"Không phải chuyên gia công trình," tôi đáp. "Tôi cần tìm người bản địa cũ của thung lũng này. Những người từng sống cạnh hang Kẻ Lằn trước khi nước ngập."
Thành biến sắc, môi mấp máy như muốn nói điều gì đó nhưng lại thôi. Cuối cùng, ông ta bước tới góc phòng, hạ giọng thì thào: "Nếu anh thực sự muốn tìm hiểu theo hướng đó... thì ở bản Mường ven lòng hồ, cách đập khoảng bảy cây số đường thủy, có một ông già tên là Bùi Văn Cương. Năm nay ông ấy gần bảy mươi tuổi, làm nghề xăm mình cổ truyền. Đêm qua, khi đội cứu hộ đưa tời kéo xác con robot lên bờ, tôi thấy ông già ấy đứng trên mỏm đá nhìn xuống lòng hồ suốt mấy tiếng đồng hồ. Miệng ông ta liên tục lẩm bẩm một câu bằng tiếng Mường cổ."
"Câu gì?" Tôi siết chặt quai cặp tài liệu.
"Ông ấy bảo, dòng nước của cỗ máy sắt đã đánh thức mào đỏ của vực sâu. Đáy đập sắp vỡ, và sông Đà chuẩn bị đòi lại hang của nó."