Vực Đáy Đập Thủy Điện - Chương 3: Thước Đo Sinh Tử

Hỗn hợp khí Trimix 18/45 với mười tám phần trăm oxy, bốn mươi lăm phần trăm heli và ba mươi bảy phần trăm nitơ nạp đầy trong cụm bình đôi hai mươi bốn…

Nội dung chương

Hỗn hợp khí Trimix 18/45 với mười tám phần trăm oxy, bốn mươi lăm phần trăm heli và ba mươi bảy phần trăm nitơ nạp đầy trong cụm bình đôi hai mươi bốn lít sau lưng tôi vang lên tiếng rít khô khốc khi tôi mở van chữ Y. Áp kế hiển thị chính xác hai trăm mười bar. Ở độ sâu trên năm mươi mét, áp suất riêng phần của oxy trong không khí nén thông thường sẽ vượt ngưỡng an toàn một phẩy tư atmosphere, dễ dàng kích hoạt cơn co giật ngộ độc thần kinh. Heli được pha trộn vào để giảm tỷ lệ nitơ xuống mức an toàn, ngăn chặn trạng thái mê sảng do say khí sâu. Những phép tính này tôi đã học thuộc lòng suốt mười hai năm hành nghề, nhưng khi áp mặt nạ nguyên mặt Ocean Reef vào cằm và siết chặt năm chốt cao su quanh đầu, cuống họng tôi vẫn khô đắng.

"Hải, anh nghe rõ không?"

Giọng Thành truyền qua màng loa điện động gắn sát vành tai tôi, rè rĩ do ảnh hưởng của vỏ bọc khử nhiễu trên cáp dẫn âm nối dài từ sàn công tác.

"Nghe rõ, năm trên năm," tôi vừa kiểm tra khóa van xả của bộ đồ lặn màng khô vừa đáp lại qua micro tích hợp bên trong mặt nạ. "Áp suất bình đôi ổn định. Máy tính Suunto đã nhận diện hồ sơ lặn Trimix. Bắt đầu thả dây hoa tiêu từ tời phụ sàn đón gió mố bờ phải."

"Mọi thông số kỹ thuật bên buồng máy vẫn đang chạy cầm chừng," giọng Thành thấp xuống, mang theo tiếng thở dốc đầy lo ngại. "Ông Khang vừa lên xe về khu nhà điều hành họp khẩn với các trưởng ca. Đội bảo trì cửa xả đang nghỉ giao ca ở tầng hầm cơ điện số hai. Anh chỉ có bốn mươi phút dưới đó trước khi dòng xả ngầm làm xáo trộn độ ổn định của phao tiêu. Nếu phát hiện rãnh trượt van số ba có dấu hiệu kẹt thực sự, anh phải bấm nút phát tín hiệu thủy âm để tôi kéo tời cơ khí lên ngay."

Tôi không trả lời thêm. Tôi với tay vặn chặt van xả áp tự động trên bắp tay trái, kiểm tra chiếc đèn lặn pha kỹ thuật Halcyon công suất bốn mươi watt treo ở thắt lưng, rồi bước tới mép sàn thao tác bằng thép mạ kẽm.

Bên dưới chân tôi, mặt nước hồ thủy điện Sơn La đen đặc như một khối hắc ín khổng lồ trải dài hút tầm mắt vào chân vách đá sừng sững của dãy núi Tây Bắc. Đợt mưa lũ thượng nguồn khiến dòng sông Đà chở nặng hàng triệu tấn phù sa lơ lửng, biến khối nước ngọt sâu thẳm thành một môi trường quánh đặc, cản trở gần như hoàn toàn ánh sáng tự nhiên. Gió đêm thốc từ họng vực sâu lên mang theo hơi lạnh buốt da thịt và thứ mùi kim loại rỉ sét nồng nặc quen thuộc.

Tôi bước hụt một bước xuống khoảng không, thả lỏng toàn bộ cơ thể chìm vào lòng nước.

Khối nước lạnh mười bốn độ C ập tới, bóp chặt lấy lớp cao su ba lớp của bộ đồ màng khô. Áp lực thủy tĩnh lập tức ép căng bộ ngực tôi. Tôi nâng bàn tay bọc găng dày năm milimet lên bóp van xả khí lạm vào ngực áo, điều chỉnh độ nổi âm tính để cơ thể bắt đầu chìm xuống dọc theo sợi cáp hoa tiêu bện sợi aramid.

Bọt khí heli thoát ra từ van xả một chiều tạo nên những âm thanh ùng ục trầm đục bên ngoài chụp kính. Ở độ sâu mười mét, ánh đèn cao áp từ sàn công tác trên mặt đập hoàn toàn biến mất. Nước chung quanh chuyển từ màu lục thẫm sang một màu xám xịt, rồi nhanh chóng bị bóng tối nuốt trọn. Tầm nhìn co cụm lại trong vòng nửa mét. Tôi bật chiếc đèn pha lặn cá nhân. Luồng sáng vàng xuyên phá lớp bùn lơ lửng, tạo thành một vệt nón mờ ảo rọi thẳng xuống vực thẳm.

Đồng hồ máy tính Suunto gắn trên cổ tay trái liên tục nhảy số:

Mười lăm mét. Áp suất tuyệt đối hai phẩy năm bar.

Hai mươi lăm mét. Ba phẩy năm bar.

Ba mươi lăm mét. Bốn phẩy năm bar.

Càng xuống sâu, tiếng ồn từ cỗ máy công nghiệp phía trên càng thu hẹp lại, nhường chỗ cho một thứ âm thanh cơ học khác: tiếng rền rĩ âm ỉ phát ra từ các khối bê tông trọng lực của thân đập. Đó là tải trọng của hàng tỷ mét khối nước đang dồn nén lên từng thớ cốt thép, một lực ép tĩnh học đủ sức nghiền nát mọi sai số cơ khí. Tôi nuốt nước bọt liên tục để cân bằng áp suất khoang tai giữa. Màng nhĩ căng lên từng hồi đau buốt.

"Hải, độ sâu bao nhiêu rồi?" Giọng Thành đứt quãng qua hệ thống liên lạc. "Đã tới ngưỡng sàn ngực van chưa?"

"Bốn mươi hai mét," tôi thở chậm lại, ép nhịp tim giữ ở mức sáu mươi lăm nhịp một phút để tiết kiệm khí thở Trimix. "Đã bắt đầu chạm đỉnh lưới chắn rác số ba. Tốc độ dòng chảy cục bộ đo được qua đồng hồ lưu tốc kế là không phẩy tám mét một giây. Ổn định."

Tôi đưa chân vịt bản rộng quạt nhẹ hai nhịp, đẩy thân mình trôi lơ lửng ngang qua kết cấu lưới chắn rác khổng lồ bằng thép hợp kim. Những thanh giằng kim loại dày như bắp đùi người lớn đan chéo vào nhau, phủ đầy một lớp rêu đáy trơn tuột và bùn khoáng sông Đà. Lưới chắn rác này được thiết kế để chặn đứng các thân cây cổ thụ trôi dạt từ rừng thượng nguồn đổ về nhằm bảo vệ cửa van đáy và buồng xoắn tuabin. Bình thường, không có bất kỳ vật thể tự nhiên nào dài quá nửa mét có thể lọt qua hàng rào cơ học này.

Thế nhưng, khi luồng sáng từ đèn pha quét ngang qua khung giằng số năm, tim tôi đập giật lên một nhịp.

Ba thanh thép chữ I chịu lực loại ba trăm milimet, được tôi luyện đặc chủng để chịu tải trọng uốn hàng chục tấn, đã bị bẻ cong gập về một phía. Vết gãy không hề mang dấu vết của sự mỏi kim loại hay va đập diện rộng của gỗ mục trôi sông. Thép bị xé toạc ra từ điểm giữa. Mặt cắt kim loại nham nhở, tước ra từng sợi thép xoắn xích như thể vừa có một hàm răng khổng lồ ngoạm nghiến qua đây rồi giật đứt bằng một lực vặn xoắn vô song.

Tôi giữ chặt sợi cáp hoa tiêu, rà đầu camera ghi hình gắn trên mũ lặn sát vào vị trí thanh thép biến dạng.

"Thành, ghi lại tọa độ này," tôi nói vào micro, giọng đanh lại. "Khung giằng lưới chắn rác số ba bị ngoại lực phá hủy từ hướng ngoài vào trong. Không có dấu vết va chạm của gỗ tròn. Các dầm thép chịu lực bị xé đứt theo phương ngang. Lực xé vượt quá ngưỡng tính toán của thép mác Q345 ít nhất bốn lần."

Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, chỉ có tiếng thở hổn hển của Thành và tiếng máy in số liệu lạch cạch vang lên mờ nhạt: "Anh... anh nói thật chứ? Khung chắn rác đó nặng tới ba mươi tấn, lắp đặt từ năm 2010 đến nay chưa từng biến dạng dù trải qua ba đợt lũ lịch sử..."

"Tôi đang nhìn thẳng vào vết đứt," tôi gạt lớp bùn bám quanh mép thép, những ngón tay bọc cao su miết lên bề mặt gồ ghề sắc nhọn. "Đây là vết cắn xé. Một lực kéo tập trung tại ba điểm tiếp xúc cục bộ. Độ hở giữa các vết cào sâu tới sáu mươi centimet."

Không đợi Thành trả lời, tôi thả dây hoa tiêu, kích hoạt van xả áo lặn để chìm sâu hơn nữa.

Bốn mươi tám mét.

Đáy của rãnh trượt cửa van đáy số ba đã lù lù hiện ra ngay phía trước mặt tôi. Đó là một khe rãnh thẳng đứng bằng thép đúc dày năm mươi centimet, xẻ sâu vào khối bê tông mố đập để định hướng cho cánh van phẳng nặng hơn một trăm tấn trượt lên trượt xuống khi vận hành xả lũ. Ở độ sâu này, nước sông Đà trở nên đặc quánh, lạnh buốt thấu xương. Bóng tối vây bọc bốn bề dầy đặc đến mức ánh đèn pha bốn mươi watt chỉ rọi sáng được một quầng tròn nhỏ đường kính chưa đầy hai mét.

Tôi bơi men theo gờ rãnh trượt bên phải, đưa mắt rà soát từng centimet mặt kim loại được gia công chính xác đến từng phần mười milimet.

Cánh van đáy số ba hiện đang đóng chặt ở cao trình đáy. Dưới áp lực cột nước gần năm mươi mét, bề mặt cánh van ép chặt vào gioăng cao su P-seal chặn nước. Nhưng ngay tại điểm tiếp giáp giữa mép van và rãnh trượt bê tông, toàn bộ tấm ốp inox chống ma sát đã bị cày xới nát bấy.

Những rãnh cào sâu hoắm chạy song song nhau, khoét sâu vào lớp thép đúc chịu lực. Bề rộng của mỗi đường rãnh lên tới năm centimet, sâu hoắm vào tận lõi dầm kim loại. Kim loại bị cào xới đùn lên hai bên mép rãnh thành những gờ nhọn hoắt, phản chiếu ánh đèn lặn lấp lánh như vảy bạc.

Tôi nín thở, đưa thước kẹp kỹ thuật ra đo khoảng cách giữa các rãnh cào.

Bốn mươi lăm centimet. Bốn mươi nhăm centimet đều đặn cho một cụm bốn vết xước.

Đây chính xác là dấu vết cơ học của một bàn chân hoặc chi trước có bốn móng vuốt sắc nhọn, với lực ép bề mặt ước tính phải lên tới hàng nghìn tấn mới có thể cày xới được thép tôi cường độ cao của rãnh trượt cửa van như cào vào đất sét mềm. Cú cào này đã làm cong vênh toàn bộ ray dẫn hướng số ba. Nếu hệ thống xi-lanh thủy lực kéo cánh van lên vào sáng mai theo lệnh của ông Khang, cánh van nặng hàng trăm tấn chắc chắn sẽ bị kẹt nghiêng ở góc nâng ba mươi độ, tạo ra một khe hở hẹp chết người.

Khi đó, cột nước sáu mươi mét với áp lực khủng khiếp sẽ phun qua khe hẹp đó với vận tốc vượt âm thanh dưới nước, tạo ra hiện tượng bọt khí xâm thực ăn mòn mố đập bê tông chỉ trong vài giờ ngắn ngủi. Thân đập Sơn La sẽ bắt đầu vỡ từ chính điểm nút này.

"Thành! Báo cáo ngay cho Ban Giám đốc!" Tôi quát lớn vào micro, hơi thở dồn dập khiến van cấp khí Trimix phát ra những tiếng rít chói tai. "Rãnh trượt ray phải bị biến dạng hình học nghiêm trọng! Dầm thép bị cày rách, ray dẫn hướng bị xô lệch khỏi phương thẳng đứng mười hai độ. Tuyệt đối không được kích hoạt xi-lanh nâng van số ba vào sáng mai! Nếu nâng van, toàn bộ kết cấu cửa xả đáy sẽ kẹt cứng và gãy gập!"

"Hải... nghe... rè... quá..." Tiếng Thành lạo xạo lẫn trong tạp âm cơ điện ngày một dữ dội. "...áp lực... tuabin số ba đang... dao động..."

"Thành! Nghe rõ tôi nói không? Trả lời!" Tôi gõ mạnh đầu cán thước kẹp vào micro để tạo xung âm.

Đáp lại tôi chỉ là những tiếng lách tách vô hồn của đường truyền vô tuyến dưới nước. Tín hiệu cáp âm thanh dường như đã bị một dải tần số cực thấp can thiệp làm gián đoạn hoàn toàn.

Tôi thở hắt ra một hơi dài, ép mình định thần lại. Tiếng đập thình thịch của lồng ngực dội ngược vào tai. Tôi nhìn vào đồng hồ máy tính lặn Suunto. Thời gian dưới đáy đã chạm mốc hai mươi hai phút. Lượng khí Trimix còn lại một trăm bốn mươi bar, vừa đủ cho quá trình giảm áp theo từng chặng sáu mét, chín mét để đào thải heli khỏi các mô mỡ trước khi ngoi lên mặt nước. Tôi phải thu thập nốt mẫu phoi kim loại bị cào rách này để làm bằng chứng vật lý không thể chối cãi trình lên Hội đồng nghiệm thu an toàn đập.

Tôi rút chiếc kìm cơ khí chuyên dụng bên hông, cúi người áp sát vào gờ rãnh trượt.

Bàn tay tôi vừa chạm vào bề mặt dầm thép, một cảm giác kỳ quái lập tức truyền qua lớp găng cao su tổng hợp.

Thép không lạnh.

Nước ở độ sâu bốn mươi tám mét của lòng hồ thủy điện vào mùa thu luôn duy trì ở mức nhiệt độ mười hai đến mười bốn độ C. Nhưng ngay lúc này, bề mặt tấm kim loại tôi đang cầm lại ấm lên một cách vô lý.

Tôi liếc mắt xuống màn hình đồng hồ Suunto. Cảm biến nhiệt độ kỹ thuật số đang nhảy số liên tục:

Mười lăm độ.

Mười bảy độ.

Hai mươi mốt độ.

Hai mươi tư độ C.

Nhiệt độ môi trường nước xung quanh cửa van đáy số ba vừa tăng vọt lên mười độ C chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi giây.

Cùng lúc đó, lớp bùn mịn tích tụ hàng chục năm dưới chân cửa van bắt đầu sôi ùng ục. Những bọt khí màu xám đục từ các khe kẽ bê tông trồi lên, mang theo một mùi hôi thối nồng nặc vượt qua cả màng lọc than hoạt tính của van thở, xộc thẳng vào cuống họng tôi. Mùi tanh lợm của dịch nhầy bò sát cổ đại hòa lẫn mùi lưu huỳnh cháy khét lẹt nồng nặc đến mức khiến dạ dày tôi quặn thắt lại trong một cơn buồn nôn dữ dội.

Đó không phải là hiện tượng thủy lực học thông thường. Nước nóng lên từ một nguồn nhiệt sinh học hoặc địa chất khổng lồ ngay dưới chân tôi.

Tôi lập tức giật mạnh sợi cáp an toàn để phát tín hiệu kéo khẩn cấp lên sàn công tác.

Sợi cáp căng lên, nhưng thay vì kéo tôi ngược lên cao, nó đột ngột chùng xuống rồi rơi thõng như một sợi chỉ đứt.

Một chấn động dữ dội chạy dọc từ đáy hồ truyền thẳng vào lồng ngực tôi. Cả khối bê tông khổng lồ của đập thủy điện Sơn La dường như vừa rung chuyển trước một cú va đập từ bên dưới lòng đất.

Dưới chân bệ van số ba, một khe nứt địa chất rộng gần hai mét - đường phân giới dẫn tới hệ thống hang ngầm đá vôi cổ xưa từng bị hàng triệu tấn xi măng phong tỏa ba mươi năm trước - đang mở toạc ra.

Từ trong khe nứt đen ngòm hun hút ấy, một dòng nước xoáy ngược buốt lạnh đến âm độ bất thần xộc ngược lên.

Sự chênh lệch nhiệt độ đột ngột giữa khối nước nóng quanh cửa van và dòng nước xoáy băng giá từ đáy hang tạo nên một hiện tượng đảo tầng nhiệt thủy lực cực kỳ hung bạo. Một luồng xoáy ngược hình phễu khổng lồ hình thành ngay dưới chân tôi, cuốn phăng lớp bùn đáy dày hàng mét thành một cơn bão bụi mù mịt dưới nước. Tầm nhìn lập tức tụt về con số không tròn trĩnh.

Cơ thể tôi bị dòng nước xoáy giật mạnh, quay tròn như một chiếc lá khô giữa tâm bão. Chiếc đèn pha Halcyon bị dòng nước giằng phăng khỏi tay, văng ra xa, để lại luồng sáng xoay tít mù mịt giữa làn nước đục ngầu phù sa.

Trong quầng sáng chao đảo lướt qua khe nứt địa chất trước khi chìm hẳn vào bóng tối vĩnh cửu, tôi đã nhìn thấy nó.

Một mảng thân khổng lồ uốn lượn chậm rãi từ hốc đá ngầm trồi lên, đường kính thân mình dễ dàng vượt quá hai mét. Bề mặt lớp da bao phủ bởi những chiếc vảy hình thoi màu xám thép to bằng chiếc đĩa ăn cơm, khép chặt vào nhau đều đặn như giáp trụ kim loại. Và ngay phía trên đỉnh đầu đang trồi lên khỏi lòng đất tối tăm, một chiếc mào thịt đỏ rực như máu tươi, dựng đứng với những gai xương nhọn hoắt dài cả mét, phát ra một thứ ánh sáng lân tinh ma quái dập dờn trong làn nước đục.

Nó không bơi bằng vây. Toàn bộ thân hình đồ sộ nghìn năm tuổi ấy trườn đi bằng những chuyển động cơ bắp cuồn cuộn, mang theo một xung lực kinh hoàng dồn nén suốt ba thập kỷ dưới đáy hồ bị ngăn sông.

Con thú khổng lồ gầm lên dưới nước.

Đó không phải là âm thanh truyền qua không khí, mà là một bước sóng hạ âm cực mạnh dội thẳng vào xương sọ, nghiền ép màng nhĩ và bóp nghẹt tim tôi. Sóng xung chấn thủy lực quét ngang qua mố đập, giật tung các bu lông neo của dầm thép, mang theo hàng vạn mét khối nước xoáy ngược cuốn thẳng vào cửa nhận nước dẫn tới buồng xoắn tuabin của nhà máy phát điện.

Chương khác

Xem thêm