Vực Đáy Đập Thủy Điện - Chương 6: Bức Tranh Trên Da Thịt

Ngọn đèn dầu hỏa trên vách nứa bập bùng theo từng cơn gió lạnh thốc từ mặt hồ vào lòng gian nhà sàn. Bùi Văn Cương đưa tay cởi những chiếc cúc vải bọc…

Nội dung chương

Ngọn đèn dầu hỏa trên vách nứa bập bùng theo từng cơn gió lạnh thốc từ mặt hồ vào lòng gian nhà sàn. Bùi Văn Cương đưa tay cởi những chiếc cúc vải bọc chỉ chàm trên ngực áo. Tấm vải thô sờn bạc trượt xuống hai bên vai, để lộ toàn bộ phần thân trên của ông lão sáu mươi bảy tuổi.

Dưới ánh lửa vàng vọt, tôi khựng lại.

Toàn bộ lồng ngực, hai bắp tay và vùng xương sườn của cụ Cương được bao phủ bởi một đồ án xăm mình đồ sộ, chằng chịt và tinh xảo đến rợn người. Lớp mực xăm ăn sâu vào biểu bì qua hàng chục năm không hề phai nhạt thành màu xanh nhờ nhờ như hình xăm hiện đại, mà ánh lên sắc xanh đen sẫm pha lẫn ánh tím than của khoáng chất.

Đó là một bức tranh uốn lượn hình một sinh vật mình rắn vảy cá khổng lồ, cuộn tròn bốn vòng quanh xương ức, chiếc đầu mang mào nhọn hướng thẳng lên cuống họng. Xen kẽ giữa từng thớ cơ là những đường vân sóng nước hình học gãy khúc, những chấm tròn đồng tâm xếp lớp như mắt lưới bát quái, tạo thành một hệ thống hoa văn dày đặc bao bọc trọn vẹn từng mảng da thịt.

Cụ Cương nhấc chiếc hũ sành nhỏ, dùng đầu ngón tay quệt lấy một ít bột đen sền sệt bôi lên lòng bàn tay. Mùi khét nồng của tro thảo mộc quyện với mùi tanh lạnh của bùn khoáng bốc lên đặc quánh.

- Người dưới xuôi các chú nhìn vào chỉ nghĩ đây là bùa trừ tà ma quỷ - Cụ Cương khẽ miết ngón tay ráp cộm lên những vết sẹo gồ ghề - Nhưng đời ông nội tôi, rồi đến cha tôi truyền lại, mũi kim chọc xuống da thịt không phải để cầu xin ma quỷ tha mạng. Mũi kim xăm mực này vào người là để đánh lừa vực sâu.

Tôi bước lại gần chiếc chõng tre, ánh mắt nghề nghiệp của một kỹ sư cơ khí thủy lực vô thức phân tích từng chi tiết đồ họa trên cơ thể cụ Cương. Là dân Đại học Bách khoa chuyên về cơ học chất lỏng và vật lý công trình, tôi quen nhìn thế giới qua những con số, biểu đồ tần số và trường lực. Nhưng lúc này, cấu trúc hình học trên da thịt ông lão người Mường khiến những kiến thức hàn lâm trong đầu tôi rung chuyển dữ dội.

Những đường hoa văn lượn sóng không hề được vẽ ngẫu nhiên theo cảm tính dân gian. Khoảng cách giữa các đỉnh sóng dao động đều đặn từ sáu đến tám milimét, mô phỏng chính xác bước sóng xung kích của dòng nước xoáy tầng sâu. Từng chiếc vảy thuồng luồng được xăm xen kẽ theo quy tắc tỷ lệ vàng, tạo thành những ma trận phản xạ đối xứng.

Tôi cầm lấy chiếc hũ mực sành, đưa lên gần mũi ngửi rồi miết một chút chất bột đen giữa hai ngón tay:

- Mực này làm từ gì vậy cụ?

Tro lá chuối rừng đốt trong hang ngầm, mỡ cá ngạnh đầu mùa, và bột đá thạch anh nghiền mịn lấy từ vách đá vôi ngập nước. Cụ Cương đáp, giọng trầm đục. Kim xăm phải là kim đồng đặc cạo từ rìu cổ, mỗi mũi đâm phải sâu qua lớp da mỡ, chạm đến màng cơ bắp để máu thịt ngấm trọn bột đá. Khi xuống nước lạnh, mỡ co lại, đá thạch anh và tro than dưới da sẽ khóa chặt hơi ấm và mùi tanh của máu người.

Tôi bàng hoàng nhận ra bản chất vật lý ẩn giấu dưới lớp vỏ tín ngưỡng nghìn năm.

Loài bò sát cổ đại khổng lồ sống dưới đáy vực sâu sáu mươi mét hoàn toàn mù lòa trong bóng tối vĩnh cửu. Chúng săn mồi không dựa vào thị giác, mà sử dụng hệ thống thụ thể đường bên chạy dọc thân mình để cảm nhận những biến động áp suất cực nhỏ của nước, cùng các hốc thụ cảm điện sinh học ở vùng đầu tương tự như ampullae của loài cá mập cổ.

Cơ thể con người khi ngâm nước lạnh sẽ tỏa ra bức xạ nhiệt, phát tán ion muối qua tuyến mồ hôi và sinh ra một trường điện thế sinh học mỏng manh do cơ bắp co bóp. Đối với một con thủy quái nhạy cảm, điện trường đó chẳng khác nào một ngọn hải đăng rực sáng giữa đáy bùn tăm tối.

Thế nhưng, lớp mực xăm này chứa bột khoáng thạch oxit sắt, tro carbon dẫn điện và tinh thể thạch anh. Khi được găm sâu vào mạng lưới thần kinh dưới biểu bì, ma trận hoa văn sóng gợn hoạt động như một lớp vỏ bọc phân tán trường điện từ. Nó làm biến dạng bức xạ sinh học của cơ thể, biến tín hiệu sống của một con người thành một chuỗi xung động hỗn loạn, hòa lẫn hoàn toàn vào tiếng ồn nền của đá ngầm và dòng chảy ma sát!

Tổ tiên người Mường ven sông Đà không biết đến khái niệm trường điện từ hay sóng âm tần số thấp. Họ đúc kết nó qua hàng trăm năm trả giá bằng máu và xác chết dưới lòng sông hung dữ, để lại giải pháp sinh tồn tối thượng khắc thẳng vào da thịt.

- Cụ xăm bộ hoa văn này từ năm bao nhiêu tuổi? - Tôi cất giọng khàn khàn.

- Mười lăm tuổi - Cụ Cương nhìn xuống ngực mình, ánh mắt xa xăm - Cha tôi ép tôi nằm trên sàn nứa suốt ba ngày ba đêm. Mũi kim đồng chọc đến đâu, máu trào ra đến đó, sốt run bần bật tưởng chết đi sống lại. Nhưng nhờ nó, ba mươi năm trước, khi tôi cùng đội thợ lặn người bản địa dò đáy sông Đà để khảo sát đặt móng đập, con thú đó đã bơi sát qua lưng tôi ở rãnh đá ngầm mà không hề tấn công. Nó lướt qua như thể lướt qua một tảng đá phủ rêu phong.

Cụ Cương chỉ tay vào chiếc lồng thép cứu hộ bị nghiền nát ngoài bãi bồi:

- Thợ lặn của các chú mang bình dưỡng khí bóng loáng, vỏ thép sáng choang, động cơ cánh quạt đẩy nước kêu rèn rẹt. Toàn thân các chú phát ra tiếng động cơ khí và mùi cao su nhân tạo. Đối với Chúa Vực, đó là kẻ xâm lăng lãnh địa, là mồi ngon cần nghiền nát.

Tôi hít sâu một luồng khí lạnh buốt, lấy từ ba lô chống nước ra tập bản vẽ hoàn công của đập thủy điện Sơn La và cụm cửa van xả đáy số ba. Tôi trải rộng tấm giấy can phủ lớp mực in kỹ thuật màu xanh thẫm lên mặt chõng tre, dùng mấy hòn đá mài đè lên bốn góc.

- Cụ nhìn vào đây - Tôi rọi đèn pin kỹ thuật vào mặt cắt trắc dọc của chân đập - Cửa van xả đáy nằm ở cao trình một trăm ba mươi mét, cách mặt nước tích trữ hồ hiện tại đúng sáu mươi mét. Để ngăn nó phá toạc thân đập, chúng ta bắt buộc phải hạ được cánh van phẳng dự phòng bằng thép hợp kim nặng bốn mươi lăm tấn xuống rãnh van. Nhưng hiện tại, rãnh van đang bị kẹt cứng bởi các mảng bê tông nứt vỡ từ miệng hang ngầm caster số năm, ngay sát bệ tiêu năng.

Ngón tay tôi vạch một đường đỏ từ buồng xoắn tuabin tổ máy số ba chạy thẳng ra khe nứt địa chất ngầm:

- Hệ thống quan trắc cho thấy con quái thú đang nằm phục kích ngay trong hốc caster này. Nó bị kích động bởi xung lực rung của bánh xe công tác tuabin. Nếu tôi và đội cứu hộ lặn xuống bằng thiết bị thông thường để gắp bỏ chướng ngại vật ở rãnh van, chúng tôi sẽ biến thành mồi nhử cho nó trước khi kịp chạm tay vào pa-lăng nâng hạ.

Cụ Cương cúi sát mặt vào bản vẽ kỹ thuật. Dù không biết đọc những ký hiệu độ dốc hay mác bê tông cốt thép, đôi mắt tinh tường của một thợ lặn sông Đà lão luyện nhanh chóng nhận ra các dòng chảy ngầm và thế đá vôi. Ngón tay thô ráp của ông lão chỉ trúng vào góc chết phía sau trụ pin số ba:

- Dòng nước qua họng xả đáy bị dồn lại chỗ này tạo thành một xoáy nghịch. Chú muốn xuống mà không bị cuốn vào miệng buồng xoắn, phải đi từ lưng chừng sườn núi bên phải, men theo khe nứt của vách đá Thác Bờ cũ. Ở đó có một dải đá phiến che chắn dòng chảy, bùn lắng dày hơn hai mét.

- Nhưng cửa van bị kẹt đá tảng - Tôi nhấn mạnh - Muốn dọn sạch rãnh van để hạ cửa thép, chúng tôi phải dùng kích thủy lực áp lực cao và liều nổ định hình cỡ nhỏ để phá vỡ khối bê tông chèn rãnh. Tiếng nổ dưới nước ở độ sâu sáu mươi mét sẽ truyền âm xa hàng cây số. Nó sẽ lao ra xé xác bất cứ ai đứng cạnh rãnh van trong vòng mười giây.

- Vậy thì phải bịt các giác quan của nó lại trước khi kích nổ - Cụ Cương ngẩng đầu lên, ánh mắt quắc thước - Tôi sẽ xuống cùng chú.

Tôi sững sờ nhìn ông cụ:

- Cụ đã gần bảy mươi tuổi rồi! Độ sâu sáu mươi mét áp suất lên tới bảy atmosphere. Ở độ sâu đó, phổi và màng nhĩ chịu lực nén khủng khiếp, chỉ có thợ lặn bão hòa với hỗn hợp khí thở chuyên dụng Nitrox hoặc Trimix mới cầm cự được!

- Thể xác tôi già, nhưng dòng máu sông Đà trong người tôi không sợ nước - Cụ Cương đanh giọng lại - Chú có máy móc hiện đại, có bình dưỡng khí tốt. Nhưng chú không biết cách nói chuyện với vực sâu. Muốn phong ấn cửa hang caster, không thể chỉ dùng thuốc nổ và sắt thép. Chú phải dùng bùa ngải của người Mường, dùng bột khoáng thảo mộc bịt kín các kẽ đá rỉ máu nước, đánh lừa các râu cảm ứng của nó. Không có tôi dẫn đường qua xoáy ngầm vách Thác Bờ, các chú vừa chạm chân xuống bốn mươi mét đã bị dòng hút cuốn thẳng vào miệng tuabin nát vụn thành bọt máu.

Tôi nhìn sâu vào khuôn mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn như rễ cây rừng của cụ Cương, rồi nhìn xuống bức tranh thuồng luồng đồ sộ trên ngực ông. Lòng tôi trào dâng một cảm giác xung đột tột độ giữa lý trí khoa học thực nghiệm và những tri thức sinh tồn cổ xưa đang bày ra trước mắt.

- Cụ định phong ấn cửa van thế nào? - Tôi hạ giọng hỏi, chấp nhận bước vào ván cược sinh tử.

Cụ Cương với tay lấy chiếc túi vải chàm, đổ ra bàn ba thanh nẹp bằng đồng thau đen bóng, dài khoảng nửa mét, trên mặt khắc kín những ký tự tượng hình ngoằn ngoèo giống như hình rồng nước uốn khúc.

- Đây là then đồng cắm mốc ranh giới của các dòng họ người Mường cổ ven sông, đúc từ thời đồ đồng Đông Sơn - Cụ Cương vuốt ve bề mặt kim loại lạnh ngắt - Đồng này được luyện cùng quặng chì và vảy rùa núi. Khi cắm ba thanh then này vào ba góc của khe nứt caster, kết hợp với mực thảo mộc rải đều theo dòng xoáy, toàn bộ vùng nước quanh cửa van số ba sẽ bị phong tỏa mùi sinh khí. Trong mắt con quái vật, khu vực đó sẽ biến thành một khối đá chết không có sự sống. Chú sẽ có đúng hai mươi phút để dùng kích nổ dọn sạch rãnh van và hạ cánh cửa thép bốn mươi lăm tấn xuống phong tỏa miệng vực.

Tôi nhìn những thanh then đồng, nhanh chóng kết nối với bài toán cơ học:

- Nếu cắm ba thanh nẹp này vào khe nứt chịu lực, chúng có thể hoạt động như những cọc neo địa kỹ thuật tạm thời, giảm thiểu độ mở rộng của vết nứt khi tôi điểm hỏa khối nổ định hình. Nhưng còn tôi? Cụ có lớp văn thân che chắn, còn tôi thì trần trụi dưới lớp đồ lặn cao su tổng hợp. Sinh khí của tôi sẽ là mồi ngon cho nó.

Cụ Cương nhấc hũ mực đất nung lên, cặp mắt sáng quắc nhìn thẳng vào ngực tôi:

- Cởi áo bảo hộ ra.

Tôi không do dự. Chiếc áo kỹ sư EVN đẫm mồ hôi và mùi dầu mỡ máy móc bị lột bỏ, ném xuống sàn nứa.

Cụ Cương cầm lấy cây kim đồng dài nhọn hoắt, nhúng ngập đầu kim vào hũ mực đen sền sệt. Ngọn lửa đèn dầu hắt bóng hai người chúng tôi in dài lên vách nứa, dập dềnh như hai chiếc bóng ma dưới đáy nước.

- Tôi không đủ thời gian xăm kín toàn thân chú như cha tôi đã làm - Cụ Cương nói, bàn tay khô khốc ghì chặt lên bả vai tôi - Tôi sẽ xăm ấn rồng nước thu nhỏ vào ba huyệt đạo lớn trên ngực và sống lưng chú. Mực sẽ ngấm thẳng vào dòng máu. Cơn đau này chú phải cắn răng mà chịu, nếu hét lên làm đứt khí huyết, mực trôi mất thì công cốc.

Mũi kim đồng lạnh buốt đâm phập vào da thịt vùng ngực trái tôi.

Một cơn đau nhói buốt như có dòng điện cao thế phóng thẳng vào tim khiến toàn thân tôi giật nảy. Tôi nghiến chặt hàm răng đến mức quai hàm kêu rắc rắc, hai bàn tay bấu chặt vào mép chõng tre nứa đến tước cả móng tay. Máu tươi rỉ ra lập tức hòa quyện với chất mực tro khoáng đen nhánh bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc.

Cụ Cương thoăn thoắt đâm từng mũi kim dứt khoát, chuẩn xác như một cỗ máy công nghiệp. Mỗi nhát đâm là một điểm nối trong ma trận sóng gợn. Tôi cảm nhận rõ rệt một luồng nhiệt nóng rực lan tỏa từ ngực trái chạy dọc theo các tĩnh mạch, làm tê dại toàn bộ lồng ngực. Mùi máu và mực xộc lên sống mũi cay nồng.

Mười lăm phút trôi qua như một thế kỷ chịu cực hình.

Khi cụ Cương rút mũi kim cuối cùng khỏi bả vai tôi và dùng lá thuốc rừng chà xát lên vết thương rướm máu, trên ngực tôi đã hiện rõ một hình xăm rồng nước ba vòng cuộn, vảy giáp sắc nét lấp lánh sắc xanh đen kim loại dưới ánh đèn dầu. Cảm giác đau đớn kỳ lạ thay dần biến mất, thay vào đó là một sự tê buốt lạnh lẽo lan khắp các đầu ngón tay ngón chân, như thể thân nhiệt của tôi đang tụt dần xuống bằng với nhiệt độ của dòng nước sông Đà ngoài kia.

- Xong rồi - Cụ Cương thở dốc, lau mồ hôi trên trán - Bây giờ, chú đã mang dấu vết của dòng sông. Nó sẽ không ngửi thấy mùi máu người của chú nữa.

Tôi vừa đưa tay sờ lên những đường vân xăm còn rỉ dịch mủ trên ngực thì bên ngoài gian nhà sàn, một tiếng rít ghê rợn bỗng nhiên xé toạc không gian tĩnh mịch của màn đêm vùng cao.

Đó không phải là tiếng gió hú qua khe núi.

Húuuuuuuuu!

Tiếng còi báo động khẩn cấp cấp độ một từ đỉnh đập thủy điện Sơn La rú vang liên hồi, âm thanh xé gió truyền qua mặt nước lòng hồ rộng lớn, dội vào vách núi đá vôi tạo thành những chuỗi âm vang đinh tai nhức óc.

Mặt đất dưới chân chúng tôi đột ngột rung chuyển.

Những cột nhà sàn bằng gỗ nghiến kêu răng rắc dữ dội. Mấy chiếc bát sành trên chạn nảy lên bần bật rồi rơi xuống sàn vỡ tan tành. Nước trong chum đất trào ra ngoài lênh láng. Toàn bộ bản Mường bừng tỉnh trong tiếng chó sủa man dại và tiếng người gào thét hoảng loạn trong bóng tối.

Chiếc máy bộ đàm kỹ thuật cài bên hông tôi réo lên những tiếng rè rè chói tai, kèm theo giọng nói hoảng loạn tột cùng của trưởng ca vận hành nhà máy phát điện:

"Báo động khẩn cấp! Toàn thể lực lượng trực vận hành chú ý! Gia tốc kế móng đập tại khoang số ba ghi nhận một cú va đập cơ học cực đại! Áp lực thủy tĩnh tại cửa van đáy tăng vọt một trăm hai mươi phần trăm! Bê tông chân đập đang xuất hiện vết nứt rạn lan truyền! Nó đang húc thẳng vào cửa van số ba! Tôi nhắc lại, nó đang húc thẳng vào..."

RẦM!

Một tiếng nổ trầm đục từ sâu dưới đáy lòng hồ truyền qua tầng đá vôi vọng lên, chấn động đến mức làm ngọn đèn dầu trên vách nứa phụt tắt phụt tàn. Một đợt sóng xung kích ngầm quét qua mặt hồ, đẩy một bức tường nước đen ngòm cao hơn hai mét táp ầm ầm vào dải bồi ven bờ, cuốn trôi hàng loạt thuyền bè của dân bản.

Cú va chạm tương đương một trận địa chấn hơn ba độ Richter, xuất phát từ vực sâu sáu mươi mét nước. Khối bê tông cốt thép nghìn tấn của công trình thế kỷ đang oằn mình rạn vỡ dưới cú húc điên cuồng của con quái thú nghìn năm tuổi.

Tôi và cụ Cương đứng bật dậy trong bóng tối mịt mùng của gian nhà sàn, ánh mắt hai người chạm nhau giữa tiếng còi báo động xé ruột xé gan đang gầm rú ngoài cửa đập. Thời gian chuẩn bị đã cạn kiệt. Vực thẳm đáy sông đã chính thức xé toạc lớp vỏ bọc bình yên để kéo chúng tôi xuống cuộc đối đầu sinh tử.

Chương khác

Xem thêm