Vực Đáy Đập Thủy Điện - Chương 2: Dấu Vết Phi Cơ Khí

Căn phòng xử lý dữ liệu ngầm nằm sâu dưới chân khối bê tông cao một trăm ba mươi mét của đập Sơn La hoàn toàn vắng lặng, ngoại trừ tiếng quạt tản nhiệt…

Nội dung chương

Căn phòng xử lý dữ liệu ngầm nằm sâu dưới chân khối bê tông cao một trăm ba mươi mét của đập Sơn La hoàn toàn vắng lặng, ngoại trừ tiếng quạt tản nhiệt của giàn máy chủ trung tâm đang gầm gù thổi hơi nóng vào không khí. Mùi ozone khét lẹt đặc trưng của các vi mạch bán dẫn chạy hết công suất quyện chặt với mùi ẩm mốc của khối hành lang kỹ thuật không bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời.

Trên màn hình chuyên dụng độ phân giải 4K kích thước tám mươi lăm inch, vệt sáng xanh lục từ giao diện phần mềm phân tích quang phổ quét chầm chậm qua từng khung hình được khôi phục từ ổ cứng chống nước của robot thám hiểm đáy sâu ROV Seaeye Panther.

Tôi ngồi tựa lưng vào ghế xoay, ngón tay giữ chặt con lăn chuột, kéo lùi dòng thời gian về mốc hai mươi ba giờ bốn mươi mốt phút đêm hôm trước. Bên cạnh tôi, Thành đứng chắp tay sau lưng, hơi thở đứt quãng phả đều từng nhịp căng thẳng vào gáy tôi. Anh ta đã uống cạn cốc cà phê thứ tư kể từ đầu giờ chiều, những ngón tay bấu chặt vào mép bàn gỗ ép đến trắng bệch.

"Đoạn này đây," Thành thì thào, ngón trỏ run rẩy chỉ vào góc dưới bên trái màn hình. "Trước khi cụm cảm biến áp suất phát nổ đúng hai phẩy tám giây."

Tôi nhấn phím cách. Thước phim chuyển động với tốc độ làm chậm một phần mười sáu.

Ở độ sâu năm mươi tám phẩy bốn mét, ngay trước mặt rãnh trượt cửa van đáy số ba, bóng tối của lòng hồ sông Đà đặc quánh như nhựa đường pha loãng. Chùm sáng mười nghìn lumen từ cụm đèn halogen gắn trên đầu robot chỉ có thể xé toạc lớp nước đục ngầu phù sa trong bán kính chưa đầy ba mét. Bụi hữu cơ và mùn cặn trôi lơ lửng, tạo thành một màn sương xám xịt chuyển động hỗn loạn trước ống kính góc rộng.

Cảm biến đo lưu lượng nước hiển thị ở góc phải màn hình liên tục nhấp nháy màu đỏ: vận tốc dòng chảy qua khe hở cửa van đã chạm mốc mười hai mét một giây, tạo ra lực hút thủy tĩnh cục bộ lên tới hơn sáu mươi tấn.

Một vệt gợn sóng bất thường cắt ngang luồng sáng.

Dòng nước cuộn xoáy không tuân theo bất kỳ nguyên lý thủy lực nào của dòng chảy qua cửa van đáy. Thay vì bị hút thẳng vào khe hở dẫn xuống đường hầm xả lũ, lớp bùn đáy bị một lực đẩy hình cánh cung hất ngược lên trên.

Tôi ghìm con trỏ chuột, phóng to vùng ảnh trung tâm lên ba trăm phần trăm, đồng thời kích hoạt bộ lọc khử nhiễu bùn nước.

Khung hình giật cục rồi dừng lại ở phần nghìn giây thứ bốn mươi.

Tất cả những mường tượng ban đầu của tôi về một thân gỗ lũa ngâm bùn mục nát lập tức vỡ vụn.

Hiện rõ giữa luồng sáng gắt gỏng của đèn halogen là một mảng bề mặt cong vút, rộng tới hơn hai mét, bao phủ bởi những phiến vảy hình lục giác xếp lớp ken dày khít khao như mái ngói cung đình. Mỗi phiến vảy có đường kính xấp xỉ bàn tay người lớn, bề mặt gồ ghề các đường gân nổi hình cánh cung, phản chiếu ánh sáng đèn chiếu thành những tia lấp lánh màu xám xanh của thép tôi cao tần. Không có chút rong rêu hay bùn đất nào bám được trên bề mặt kim khí sinh học ấy. Nó bóng loáng, sắc lẹm và hoàn toàn trơn láng dưới áp lực nước sáu mươi mét.

Và ngay phía trên mảng vảy ấy, một dải mào thịt xẻ rãnh uốn lượn mang sắc đỏ tươi như máu động mạch quét ngang qua góc quay. Nó không rung rinh mềm yếu như vây cá thông thường mà dựng đứng, cứng cáp, mang những gai nhọn nhô cao chĩa ngược về phía sau, cắt xé khối nước xung quanh thành những bọt khí nhỏ li ti.

Chỉ một phần mười giây sau đó, toàn bộ màn hình chuyển thành một mớ nhiễu sóng tuyết trắng xóa. Âm thanh cuối cùng được micro định hướng dưới nước ghi lại là một tiếng rít bằng sắt thép va đập chói tai, đè bẹp cả tiếng gầm cơ khí của dòng xả đáy, trước khi đường truyền cáp quang bị giật đứt hoàn toàn.

Tôi ngả người ra sau, hai thái dương giật thon thót. Cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, lan tỏa từ đốt sống cổ xuống tận các đầu ngón tay. Trong mười hai năm làm chuyên viên thẩm định rủi ro kỹ thuật cho EVN, tôi từng trực tiếp xử lý các sự cố gãy cánh tuabin do kẹt rác tại thủy điện Yaly, từng chứng kiến những khối bê tông nặng hàng chục tấn bị dòng xoáy xé nát ở Hòa Bình. Nhưng vật thể đang trôi dạt dưới chân đập Sơn La nằm ngoài mọi bảng biểu dữ liệu cơ học và tiêu chuẩn an toàn quốc gia.

"Anh thấy rồi chứ?" Giọng Thành khàn đặc, vỡ ra từng mảnh. "Tôi đã bảo với anh rồi. Không có thân gỗ ngâm bùn nào có cấu trúc vảy kim loại và mào sừng như thế cả."

Cánh cửa kim loại nặng nề của phòng dữ liệu bất ngờ bật mở với một tiếng va đập khô khốc.

Ông Trịnh Khang, Phó Giám đốc kỹ thuật kiêm Trưởng ban chỉ huy bảo trì xả lũ của nhà máy, sải bước bước vào phòng. Bộ áo bảo hộ màu cam của ông ta ướt sũng nước mưa vùng lòng hồ, khuôn mặt chữ điền căng thẳng lộ rõ những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt. Theo sau ông ta là hai kỹ sư trưởng phụ trách khối vận hành tuabin, tay ôm chồng hồ sơ đo đạc thủy văn vừa được in ra.

"Báo cáo thẩm định sơ bộ của Tập đoàn đã xong chưa, cậu Hải?" Ông Khang cất giọng đều đều nhưng chứa đầy uy lực ép phê, hoàn toàn phớt lờ bầu không khí căng thẳng đang bóp nghẹt căn phòng. "Đúng sáu giờ sáng mai, chúng tôi phải mở van số ba. Mực nước hồ chứa ở thượng lưu Mường La đã chạm ngưỡng hai trăm mười lăm mét. Phía bên kia biên giới, trạm thủy văn Vân Nam báo về lũ quét đang dồn xuống với lưu lượng vượt dự báo ba mươi phần trăm. Chúng ta không có quyền lựa chọn."

Tôi không trả lời ngay. Tôi đứng dậy, xoay màn hình máy tính lớn về phía ông ta, đồng thời ấn nút phát lại chuỗi khung hình phóng to đã được khử nhiễu.

"Anh Khang, anh hãy nhìn kỹ vật thể này trước khi nói về chuyện mở van," tôi chỉ đầu ngón tay vào mảng vảy xám thép và vệt mào đỏ rực đang dừng lại ở giữa màn hình. "Đây là hình ảnh do ROV ghi lại ngay trước mép rãnh trượt cửa van số ba ở độ sâu năm mươi tám mét. Bề mặt phản xạ ánh sáng này có tính chất cơ học vượt trội hơn cả vỏ bọc hợp kim của robot. Nó chuyển động ngược dòng chảy thủy lực với gia tốc cực lớn. Chúng ta không thể mở một cửa van đang bị một vật thể sống khổng lồ chèn ép hoặc ẩn nấp ngay sát mép nước tiếp nhận."

Ông Khang bước tới gần màn hình, nheo mắt nhìn thật sát vào mảng hình ảnh hiển thị độ phân giải cao. Quai hàm ông ta bạnh ra, một cơ mặt bên má trái giật nhẹ. Nhưng sự biến đổi nét mặt ấy biến mất rất nhanh, nhường chỗ cho một vẻ lạnh lùng kiên quyết đến tàn nhẫn.

"Một mảng thân cây nghiến ngâm nước lâu năm bị khoáng hóa," ông Khang buông thõng một câu, mắt vẫn không rời khỏi màn hình. "Phù sa sông Đà chứa hàm lượng quặng sắt và mangan rất cao. Khi gỗ chìm sâu hàng chục năm dưới đáy hồ thiếu oxy, bề mặt của nó sẽ bị phủ một lớp trầm tích kim loại hóa, tạo ra hiệu ứng phản quang lấp lánh khi đèn halogen công suất lớn chiếu thẳng vào. Còn cái vệt đỏ này, chỉ đơn giản là một tấm bạt dứa hoặc lưới đánh cá trôi dạt từ vùng lòng hồ thượng nguồn bị mắc kẹt vào thân gỗ."

"Một tấm bạt dứa không thể tạo ra những nếp sừng sinh học đối xứng và gai nhọn định hướng dòng chảy như thế này, thưa anh!" Tôi nâng cao tông giọng, sự giận dữ bắt đầu nhen nhóm trong lồng ngực. "Và một khúc gỗ mục không thể bẻ gãy khung chịu lực titan của con Seaeye Panther!"

"Cậu Hải, cậu là kỹ sư Bách khoa, là chuyên viên an toàn do Tập đoàn cử xuống, chứ không phải một nhà làm phim tài liệu viễn tưởng," ông Khang quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào mắt tôi với ánh nhìn sắc lạnh. "Nhiệm vụ của cậu là thẩm định khả năng vận hành của hệ thống thủy lực, chứ không phải đi thêu dệt những câu chuyện quái vật dưới đáy hồ để làm chậm tiến độ xả lũ của một công trình trọng điểm an ninh năng lượng quốc gia. Cậu có biết nếu hoãn mở van đáy số ba, áp lực thủy tĩnh tích tụ qua đêm nay sẽ làm tăng nguy cơ nứt gãy đáy đập lên bao nhiêu phần trăm không? Cậu có dám gánh trách nhiệm nếu nước tràn đỉnh đập phụ, cuốn trôi toàn bộ các xã hạ lưu từ Mường La về đến thị xã Hòa Bình không?"

"Tôi chịu trách nhiệm về tính mạng của đội thợ lặn và sự toàn vẹn của kết cấu bê tông đáy," tôi đáp trả, từng chữ đanh thép ghim vào không gian ngột ngạt. "Nếu anh vẫn khăng khăng cho rằng đây là một khúc gỗ mục khoáng hóa, thì xin mời anh cùng tôi xuống xưởng cơ điện phụ trợ. Hãy tận mắt nhìn xem khúc gỗ mục của anh đã làm gì với hai trăm triệu đồng tiền hợp kim chịu lực."

Không khí trong phòng đông cứng lại. Hai kỹ sư vận hành đi sau ông Khang lấm lét nhìn nhau, không ai dám lên tiếng. Cuối cùng, ông Khang hừ lạnh một tiếng, vẫy tay ra hiệu rồi quay lưng bước thẳng ra hành lang.

Mười phút sau, chúng tôi có mặt tại phân xưởng cơ điện ngầm số hai, nằm cách phòng điều khiển trung tâm một đoạn đường hầm dốc đứng dài ba trăm mét. Không gian xưởng rộng thênh thang, nồng nặc mùi mỡ bò, dầu thủy lực và khí hàn xì. Xác con robot ROV Seaeye Panther được đặt trên bốn giá đỡ gỗ lim dày ở giữa sàn bê tông láng bóng, ngay dưới ánh đèn cao áp vàng vọt của cần trục dầm.

Nhìn từ xa, cỗ máy thám hiểm đáy sâu trị giá hàng trăm nghìn đô la trông giống như một khối phế liệu vừa được lôi ra từ máy ép rác công nghiệp.

Tôi bước tới gần, đeo găng tay cao su công nghiệp rồi bật chiếc đèn pin thợ lặn chuyên dụng gắn trên mũ bảo hộ. Ánh sáng trắng gom điểm rọi thẳng vào bộ khung chính của robot.

Bộ khung này được chế tạo từ hợp kim titan Gr5 tiêu chuẩn quân sự, dày hai mươi milimét, được thiết kế để chịu được áp suất danh định ở độ sâu ba trăm mét dưới mực nước biển mà không biến dạng quá một phần nghìn milimét. Vậy mà lúc này, thanh dầm chịu lực chính bên mạn phải bị uốn vặn một góc chín mươi độ, méo mó như một dải thiếc mỏng bị kẹp giữa hàm kìm cộng lực cỡ lớn.

Những vết nứt gãy trên bề mặt kim loại không hề phẳng lì như vết cắt cơ học hay hiện tượng mỏi kim loại do dao động thủy lực. Chúng nham nhở, để lại những rãnh cào sâu hoắm xé toạc lớp sơn phủ epoxy chống ăn mòn. Khoảng cách giữa các rãnh cào rộng đúng mười lăm phân, cắm phập vào thân kim loại tạo thành bốn lỗ thủng hình nón cụt.

"Đây là vết nén điểm," tôi chỉ luồng sáng đèn pin vào các lỗ thủng trên khung titan, giọng nói vang lên khô khốc giữa xưởng cơ điện. "Áp lực cần thiết để tạo ra biến dạng cục bộ xuyên thủng tấm titan dày hai mươi phân này phải đạt ít nhất ba mươi tấn trên một centimet vuông. Không có dòng chảy xoáy hay thân cây gỗ mục nào có thể tạo ra áp lực điểm tập trung chính xác và đối xứng như cấu trúc một hàm răng sinh học."

Ông Khang tiến lại gần, vẻ mặt cứng nhắc bắt đầu nứt ra từng mảng. Ông ta tháo găng tay da, vươn ngón tay trần định chạm vào rãnh cào trên thanh titan.

"Đừng chạm vào," tôi giơ tay chặn lại. "Nhìn lớp màng dính ở mép vết rách đi."

Dưới ánh đèn LED trắng lạnh, một lớp dịch nhầy quánh đặc màu xám tro pha chút sắc xanh rêu đang bám chặt vào các thớ kim loại bị xé toạc. Nó không hề bị dòng nước lũ sông Đà cuốn trôi trong suốt quá trình đội cứu hộ dùng tời kéo con robot từ độ sâu sáu mươi mét lên mặt đập. Lớp dịch nhầy ấy liên tục tiết ra một mùi hôi tanh nồng nặc, lợ lợ như mùi thịt bò sát ươn thối trộn lẫn với mùi rỉ sét kim loại bị thiêu đốt dưới nhiệt độ cao.

Tôi lấy một chiếc kẹp y tế từ hộp dụng cụ thẩm định, gắp nhẹ một mẩu màng nhầy đặt vào đĩa petri thủy tinh. Chất dịch kéo sợi dài gần hai mươi phân mà không hề đứt đoạn, độ kết dính quánh đặc như keo dán công nghiệp silicon chịu nhiệt.

"Kỹ sư phòng hóa nghiệm đã kiểm tra mẫu dịch này bằng máy quang phổ hồng ngoại lúc chập tối," Thành đứng bên cạnh tiếp lời, giọng run rẩy như muốn khóc. "Cấu trúc phân tử của nó hoàn toàn trơ với nước ngọt. Các chuỗi polypeptide liên kết với nhau bằng cầu nối disunfua dày đặc gấp bốn lần nọc độc hay chất nhầy của các loài bò sát nước ngọt thông thường. Dung môi hữu cơ thông thường không thể hòa tan được nó. Đây là dịch tiết bôi trơn sinh học của một loài săn mồi dưới tầng đáy sâu chịu áp suất cực cao."

Ông Khang rụt tay lại, lùi về sau nửa bước. Ánh mắt ông ta đảo qua đảo lại giữa khung titan bị bẻ gãy và đĩa petri đựng mẩu dịch nhầy xám xịt. Sự im lặng bao trùm lấy xưởng cơ điện, chỉ còn tiếng quạt thông gió trên trần nhà quay đều đều từng nhịp buồn tẻ.

Nhưng rồi, sự cố chấp của một người chịu trách nhiệm tiến độ vận hành toàn bộ nhà máy lại nhanh chóng lấn át nỗi kinh hoàng vừa chớm nở. Ông Khang siết chặt hai bàn tay, hít một hơi thật sâu rồi ngẩng đầu lên, nét mặt lại đanh lại như đá tảng.

"Dù nó là cái gì đi chăng nữa," ông Khang gằn từng tiếng qua kẽ răng, "thì việc xả lũ vẫn phải tiến hành theo đúng lệnh điều hành của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống thiên tai. Đúng năm giờ ba mươi phút sáng mai, đội vận hành sẽ kích hoạt hệ thống xi-lanh thủy lực để nâng cửa van đáy số ba lên độ cao mở kỹ thuật là một mét hai mươi. Nếu có bất kỳ vật cản nào nằm ở rãnh trượt, cột nước áp lực sáu mươi mét với lưu lượng nghìn khối một giây sẽ nghiền nát nó và tống khứ xuống hạ lưu."

"Anh điên rồi!" Tôi không thể kiềm chế được nữa, bước lên chắn ngay trước mặt người đàn ông lớn tuổi hơn mình. "Nếu rãnh trượt của cửa van bị biến dạng do vật thể này cắn phá, cánh van thép nặng hàng trăm tấn sẽ bị kẹt nghiêng giữa chừng! Khi cửa van bị kẹt ở góc mở hẹp dưới cột nước sáu mươi mét, hiện tượng xâm thực thủy lực sẽ xé nát toàn bộ kết cấu bê tông mố đập chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ! Các anh đang đem an toàn của hàng triệu người dân hạ du ra để đánh cược với một báo cáo tiến độ suôn sẻ!"

"Cậu Hải, tôi nhắc lại, cậu chỉ là một chuyên viên thẩm định có quyền ghi ý kiến khuyến cáo vào phụ lục," ông Khang chỉ thẳng ngón tay vào ngực tôi, giọng đanh lại lạnh buốt. "Người ký lệnh vận hành cửa van là tôi. Và tôi sẽ không dừng cả một hệ thống thủy điện quốc gia chỉ vì một đoạn video nhòe nhoẹt và vài rãnh cào trên một con robot lặn!"

Nói xong, ông ta quay ngoắt người, rảo bước rời khỏi xưởng cơ điện cùng hai kỹ sư vận hành. Cánh cửa cuốn kim loại hạ xuống phía sau lưng họ với một tiếng rền chấn động sàn nhà.

Trong xưởng cơ điện chỉ còn lại tôi và Thành, đứng chôn chân bên cạnh xác con robot méo mó.

Mùi tanh nồng từ đĩa petri bốc lên ngột ngạt, như một lời chế giễu đối với những tính toán cơ học và quy trình an toàn trên giấy tờ của con người. Những con số trên bản vẽ thiết kế không thể đo đạc được thứ đang cựa mình trong bóng tối vĩnh hằng dưới chân đập. Họ muốn nhắm mắt làm ngơ để giữ an toàn cho chiếc ghế của mình, chấp nhận một rủi ro có thể chôn vùi cả vùng thung lũng sông Đà.

Tôi cởi găng tay cao su ném mạnh xuống bàn cơ khí, bước thẳng tới tủ sắt cá nhân đặt ở góc phòng.

Chiếc khóa số xoay lách cách. Tôi giật tung cánh cửa sắt.

Bên trong tủ, bộ đồ lặn kỹ thuật màng khô chuyên dụng màu đen xám nằm im lìm trên móc treo, bên cạnh là cụm bình đôi chứa hỗn hợp khí thở Trimix và chiếc mặt nạ lặn nguyên mặt tích hợp hệ thống đàm thoại ngầm. Ở ngăn trên cùng, chiếc thẻ nhựa màu xanh lam của Hiệp hội Huấn luyện viên Lặn Chuyên nghiệp PADI ghi rõ tên tôi: Trần Viết Hải - PADI Divemaster, kèm mã số chứng chỉ lặn kỹ thuật sâu độ sâu tối đa tám mươi mét.

Thành hốt hoảng lao tới, hai mắt trợn tròn: "Anh Hải, anh định làm gì? Anh đừng nói với tôi là..."

"Họ không tin vào dữ liệu của robot vì họ cho rằng tín hiệu hình ảnh bị khúc xạ đáy nước đánh lừa," tôi vừa nói vừa lôi chiếc đồng hồ máy tính lặn Suunto chuyên dụng ra kiểm tra áp suất pin và nồng độ khí thở. "Họ bảo rãnh trượt van đáy không bị ảnh hưởng. Vậy thì tôi sẽ tự mình xuống đó."

"Anh mất trí rồi!" Thành túm lấy cánh tay tôi, giọng lạc hẳn đi vì sợ hãi. "Độ sâu gần sáu mươi mét trong lòng hồ nước ngọt ban đêm! Nước đục ngầu phù sa, dòng chảy hút cửa xả đáy đang cuộn tròn với tốc độ nuốt chửng cả một chiếc xe tải! Đến một cỗ máy bọc giáp titan còn bị nó xé nát trong vài giây, anh xuống đó với một bộ đồ cao su thì khác gì lao đầu vào chỗ chết?"

"Tôi có mười hai năm kinh nghiệm lặn kỹ thuật công trình, tôi biết giới hạn của thủy lực học," tôi gạt tay Thành ra, ánh mắt khóa chặt vào đồng hồ đo áp suất của bình dưỡng khí. "Nhưng nếu rãnh trượt cửa van số ba thực sự đã bị vật thể kia cắn gãy hoặc làm biến dạng cơ học, việc nâng van vào sáng mai sẽ kích hoạt thảm họa vỡ mố đáy ngay lập tức. Tôi không cần thuyết phục Ban Giám đốc bằng các suy đoán giả định. Tôi cần thước đo thực tế từ vết nứt trên dầm thép."

Tôi cúi xuống, bắt đầu kiểm tra van giảm áp cấp một và hệ thống dây cáp hoa tiêu, chuẩn bị cho chuyến lặn một mình vào lòng vực đen ngòm của dòng sông Đà.

Chương khác

Xem thêm