Yểm Thắng Sư - Chương 1: Mộ Quỳ
Chiếc xe khách cũ rẽ khỏi đường huyện khi trời đã sẫm màu. Mưa phùn quất nhẹ lên cửa kính. Bên ngoài, đồng chiêm trũng nằm im dưới một lớp nước xám.…
Nội dung chương
Chiếc xe khách cũ rẽ khỏi đường huyện khi trời đã sẫm màu. Mưa phùn quất nhẹ lên cửa kính. Bên ngoài, đồng chiêm trũng nằm im dưới một lớp nước xám. Những bờ ruộng ngoằn ngoèo cắt qua mặt nước, đen và thấp, như các đường nứt trên một tấm gạch cũ.
Vũ Thiện Nhẫn ngồi gần cuối xe, ba lô đặt dưới chân. Anh mới nhận cuộc gọi báo tang lúc đang đứng giữa công trường ở Hà Nội. Người gọi là một người đàn ông trong họ. Giọng ông ta khàn, đều, không giống người vừa báo tin chết.
- Ông cụ quỳ chết trong nhà hậu. Anh thu xếp về đi.
Nói xong, ông ta cúp máy.
Từ lúc đó đến giờ, câu ấy cứ mắc lại trong đầu Nhẫn. Quỳ chết. Người già thường mất trên giường, ngoài sân, bên bàn trà, hoặc gục xuống sau một cơn đột quỵ. Ông nội anh lại chết trong nhà hậu, ở tư thế quỳ.
Xe đi qua khu công trường san lấp ở rìa làng. Đất đỏ đổ thành từng đống cao, gặp mưa thì chảy xuống đường thành bùn sền sệt. Vài chiếc máy xúc nằm im, cần máy chĩa lên trời như xương tay. Nhẫn nhìn lớp bùn phủ lên bánh xe tải, nhìn nước đọng quanh móng công trình, thói quen nghề nghiệp khiến anh đo độ lún bằng mắt. Đất ở đây yếu. Nếu ép cọc không đủ sâu, sớm muộn nền cũng nứt.
Qua khỏi công trường là những mái nhà của làng Vũ Đại.
Mười lăm năm rồi Nhẫn mới trở lại. Làng không còn như trong trí nhớ. Nhiều nhà xây mới, tường sơn sáng, cổng sắt cao. Nhưng có một điều khiến anh dừng mắt lâu hơn. Phần lớn nhà trong ngõ họ Vũ đều quay lưng về phía nhà thờ họ. Mặt sau bị xây kín, không cửa sổ, không lỗ thông gió. Những bức tường hậu đứng nối nhau thành một dãy dài, lạnh và trắng, như thể người trong nhà không muốn nhìn thấy thứ nằm ở giữa làng.
Xe dừng dưới gốc đa cạnh giếng Cây Dâu.
Nhẫn bước xuống. Gió từ sông thổi vào, lạnh và ẩm, mang theo mùi bùn lâu ngày. Giếng nằm dưới tán đa trụi lá. Thành giếng rêu phủ kín, bên ngoài cắm mấy cọc tre quấn dây thép đã rỉ. Mặt nước đen lặng. Mưa vẫn rơi, nhưng trên mặt giếng không nổi một vòng sóng.
Anh nhìn giếng vài giây rồi xách ba lô đi vào ngõ.
Nhà ông nội ở cuối ngõ họ Vũ. Đám tang diễn ra lặng hơn mọi đám tang Nhẫn từng thấy. Không kèn, không trống, không loa đọc kinh. Chỉ có tiếng mõ đều đều từ gian ngoài và tiếng người nói nhỏ dưới mái hiên. Khi Nhẫn bước qua cổng, mấy người đàn ông đang uống nước đồng loạt ngừng lại.
Họ nhìn xuống chân anh.
Nhẫn đi giày bảo hộ, ống quần phủ kín cổ chân. Anh biết họ muốn nhìn gì. Từ nhỏ, ông nội đã bắt anh đi tất cả ngày. Dù mùa hè nóng đến đâu, dù ngủ trưa trên phản gỗ, ông vẫn không cho anh để lộ gan bàn chân trái. Ở đó có một vết bớt đen, hình giọt mực loang.
Dì Sương đón anh ở thềm.
Dì mới bốn mươi bảy tuổi mà trông già hơn tuổi. Mặt sạm, mắt thâm, hai bàn tay lạnh ngắt. Mùi nước phở, mùi khói bếp và mùi dầu gió bám vào áo tang của dì.
- Về rồi đấy à. Vào nhìn ông đi con.
Nhẫn đặt ba lô xuống cạnh cửa.
- Người ta bảo ông quỳ chết. Là thế nào hả dì?
Dì Sương tránh mắt anh. Bàn tay dì kéo vạt áo xô trắng, vò đến nhàu.
- Ông già rồi. Ngã thôi. Người làng nói linh tinh đấy.
- Ngã mà quỳ được à?
Dì Sương mím môi. Một lúc sau mới nói:
- Vào thắp nhang trước đã. Nhà đang có tang, đừng hỏi nhiều.
Nhẫn không gặng. Anh đi qua gian thờ, bước vào nhà hậu.
Căn phòng nhỏ, tối, tường vôi bong từng mảng. Mùi nhang tàn đặc quánh. Dưới mùi nhang còn có mùi đất ướt, tanh như sắt để lâu ngoài mưa.
Giữa nền gạch bát tràng có một vệt đất đen. Đất được trét từ mép tường phía đông ra giữa phòng, dày chừng hai phân, còn ẩm. Ngay trên vệt đất là hai vết lõm tròn, rõ và sâu, vừa đúng vị trí đầu gối của một người quỳ.
Nhẫn ngồi xuống. Anh quệt một chút đất lên đầu ngón tay. Đất mịn, dẻo, không lẫn cát. Không phải lớp đất mặt quanh nhà. Thứ này giống đất sét tầng sâu, loại chỉ gặp khi khoan xuống vài mét dưới lòng đất.
Bên ngoài vách gỗ, mấy ông chú trong họ nói nhỏ. Họ nghĩ anh không nghe thấy.
- Cụ Cẩn đi kiểu này là tự bịt mạch rồi.
- Miệng ngậm đất đen, hai gối quay về phía giếng. Còn lạ gì nữa.
- Nhưng bịt được bao lâu? Công trường đào sát quá rồi.
- Thằng Nhẫn về thì đất có người nhận. Giọt mực ở chân nó còn đó.
Nhẫn đứng yên. Gan bàn chân trái nhói lên một cái rất nhẹ, như có kim châm dưới lớp tất.
Cửa nhà hậu mở ra.
Trần Lãm bước vào. Trưởng thôn Vũ Đại người đậm, mặt vuông, mặc bộ vest xanh đen cũ. Ông ta nhìn vệt đất dưới nền trước, sau đó mới nhìn Nhẫn.
- Nhẫn đấy à. Mười lăm năm rồi mới thấy mặt.
- Cháu chào chú Lãm.
Lãm đi quanh vệt đất một vòng. Mũi giày da của ông gõ nhẹ lên nền gạch. Tiếng gõ đục, nghe rõ phía dưới rỗng.
- Ông nội cháu cả đời giữ đất cho làng này. Cụ mất là chuyện buồn. Nhưng có khi cũng là cái giá để đất còn yên.
Nhẫn lau đất đen trên tay bằng khăn giấy.
- Cháu chỉ thấy nền nhà bị thấm và có dấu lún. Muốn biết đất yên hay không phải khoan khảo sát.
Trần Lãm cười nhạt.
- Các anh trên phố đo được đất mặt thôi. Thứ chạy bên dưới thì máy nào đo?
Ông ta cúi xuống, nhìn hai vết đầu gối.
- Lo tang xong thì đi sớm. Đừng xới thêm. Người chết đã cố đặt xuống, con cháu đừng nhấc lên.
- Nếu cái chết của ông cháu có vấn đề, cháu sẽ tìm hiểu.
- Tìm hiểu cũng được. Nhưng nhớ, đất Vũ Đại không nhẹ đâu.
Lãm nói xong thì quay ra. Bóng ông ta khuất sau tấm vách gỗ, để lại mùi thuốc lá và nước mưa.
Nhẫn chờ tiếng bước chân xa hẳn mới kéo then cài cửa nhà hậu. Anh đi đến chiếc rương gỗ nhãn đặt ở góc phòng. Từ khi còn nhỏ, anh đã thấy chiếc rương ấy khóa kín. Ông nội không cho ai chạm vào. Trên ổ khóa đồng có đúc hình con cá, miệng cá há ra, mắt cá lồi, lâu ngày đã ngả màu xanh xỉn.
Nhẫn lấy tuốc nơ vít trong ba lô. Gỗ quanh chốt khóa đã mục. Chỉ cần bẩy nhẹ, chốt bung ra với tiếng rắc khô.
Trong rương không có tiền, không vàng, không giấy đất. Chỉ có ba bộ áo nâu cũ, một la bàn gỗ đào nứt dọc, vài cuộn chỉ đỏ, một gói đinh đồng bọc vải và một cuốn sổ da đã mủn góc.
Anh cầm cuốn sổ lên. Bìa sổ lạnh bất thường, như vừa lấy từ dưới nền đất. Trang đầu là nét chữ của ông nội, mực tàu đã phai sang màu xám.
Mộ quỳ, miệng đất, mạch rò. Ta phong tạm, con ta sau.
Bên dưới là một dãy tọa độ. Không có tên người. Không có lời giải thích.
Nhẫn mở điện thoại, nhập tọa độ đầu tiên vào bản đồ. Điểm đỏ hiện lên đúng vị trí nhà hậu, nơi anh đang đứng. Tọa độ thứ hai chỉ ra giếng Cây Dâu. Tọa độ thứ ba chỉ về đình làng. Tọa độ thứ tư nằm ở nhà thờ họ Vũ. Một điểm khác ở chùa Hang. Điểm cuối cùng nằm trong khu mộ tổ, được ông nội vẽ thêm một vòng tròn nhỏ, bên trong gạch chéo như mặt gương úp.
Ở cạnh điểm nhà thờ họ có một dòng chú ngắn: Sương, 1996.
Nhẫn nhìn hai chữ ấy rất lâu. Năm 1996, Dì Sương mười bảy tuổi. Đó là năm dì ốm nặng, tưởng chết. Sau trận ấy, dì không rời khỏi làng nữa.
Anh lật tiếp. Nhiều trang sau chỉ ghi tọa độ, cao độ, hướng nước chảy, độ lún nền. Càng đọc, anh càng thấy cuốn sổ giống một bản khảo sát địa chất hơn là sổ tay của một ông già giữ nhà thờ họ. Nhưng xen giữa các con số là những ký hiệu lạ: một chấm mực, một vòng chỉ đỏ, một hình bát hương úp.
Ngoài trời tối hẳn. Họ hàng đã ăn cơm ở gian trước. Dì Sương mang vào cho Nhẫn một bát cháo hành.
- Ăn đi con. Từ trưa đến giờ chưa có gì vào bụng.
Nhẫn nhận bát cháo. Hơi nóng bốc lên, nhưng mùi hành gần như không có. Anh múc một thìa cho vào miệng. Cháo nóng, mềm, nhưng nhạt như nước lã.
- Dì nêm nhạt à?
Dì Sương khựng lại.
- Cháo này dì nấu cho cả nhà. Ai cũng kêu hơi mặn.
Nhẫn đặt bát xuống. Đầu lưỡi anh tê dại.
Dì Sương nhìn cuốn sổ trên tay anh, mặt đổi sắc.
- Con lấy ở đâu ra?
- Trong rương của ông.
- Đừng đọc nữa.
- Vì sao?
Dì Sương lắc đầu. Mắt dì đỏ lên.
- Nhà này đã mất một người rồi. Đừng để đất gọi thêm.
Nói xong, dì bưng bát cháo đi ra ngoài. Cửa khép lại. Tiếng mõ ngoài gian thờ vẫn đều đều, chậm và khô.
Nhẫn ngồi lại một mình trong nhà hậu. Quan tài của ông nội đặt ở gian trước, nhưng mùi nhang tàn vẫn tràn vào căn phòng này, quấn lấy cổ họng anh. Anh cất cuốn sổ vào túi áo trong, rồi tắt bớt ngọn đèn trên bàn.
Đúng nửa đêm, đồng hồ cổ ở gian ngoài đánh mười hai tiếng.
Gan bàn chân trái của Nhẫn nóng ran. Cơn đau chạy từ lòng bàn chân lên bắp chân, làm anh bật dậy. Anh tháo giày, kéo tất xuống.
Vết bớt đen ở gan bàn chân trái đậm hơn ban chiều. Mép vết bớt loang ra một chấm nhỏ, tròn, ướt bóng như mực mới rơi.
Từ dưới nền gạch, ngay chỗ hai vết đầu gối của ông nội, vang lên tiếng cào.
Ken két.
Ken két.
Nhẫn nín thở. Tiếng cào đều, chậm, không giống chuột hay côn trùng. Nó giống móng tay người miết qua lớp đất sét ướt.
Vệt đất đen trên nền nhà nứt ra từng đường nhỏ. Nước đen rỉ lên qua kẽ nứt, tanh mùi sắt. Một bọt khí phồng lên, vỡ rất khẽ.
Từ dưới nền, có tiếng ai gõ ba cái.
Cộc.
Cộc.
Cộc.
Nhẫn cầm chiếc đèn dầu, cúi xuống sát nền gạch.
Tiếng cào dừng lại.
Rồi từ dưới lớp đất đen, một giọng rất nhỏ, nghẹn trong bùn, gọi tên anh.
- Nhẫn.