Bảo Gia Vạn Đại - Quyển 5: Vạn Đại Tái Sinh - Chương 79: Hôn Lễ Dưới Mái Ngói Rêu
Sương sớm trên dòng kênh Tàu Hủ tan đi khi mặt trời vừa nhô lên khỏi những rặng dừa nước phía xa. Ánh nắng màu mật ong rọi qua từng kẽ lá bàng, phủ một…
Nội dung chương
Sương sớm trên dòng kênh Tàu Hủ tan đi khi mặt trời vừa nhô lên khỏi những rặng dừa nước phía xa. Ánh nắng màu mật ong rọi qua từng kẽ lá bàng, phủ một lớp viền óng ánh lên những lớp ngói âm dương phủ đầy rêu xanh của con hẻm Hào Sĩ Phường. Khác hẳn sự ồn ào bụi bặm ngoài trục đường lớn, khoảng sân nhỏ trước tiệm mộc hôm nay yên ắng lạ thường, chỉ nghe tiếng chổi tre của Lão Thất quét roẹt roẹt trên nền gạch tàu.
Tôi thức dậy từ lúc trời còn tờ mờ tối. Đứng trước tấm gương đồng đã ố mờ treo ở góc xưởng, tôi cẩn thận cài từng chiếc cúc đồng của bộ áo dài lụa màu mỡ gà. Đây là bộ lễ phục do chính tay một bà thợ may già trong hẻm đo ni đóng giày tặng tôi tuần trước. Chiếc áo vừa vặn, chất vải mềm và mát rượi, không hề mang lại cảm giác nặng nề bức bách của những bộ âu phục đắt tiền hàng chục ngàn đô la mà tôi từng khoác lên người thuở còn làm đại thiếu gia tập đoàn Trần Thị.
Tôi xoa nhẹ cánh tay trái của mình. Lớp da từng nứt toác vì phản phệ mộc hóa nay đã liền sẹo, để lại những đường vân sẫm màu chạy dọc theo thớ thịt trông hệt như thớ gỗ sưa cổ thụ. Chúng không còn gây đau buốt mỗi khi trái gió trở trời, ngược lại mang đến cho tôi một cảm giác vững chãi, ấm áp. Máu trong huyết quản tôi vẫn chảy nhịp nhàng, gắn kết hơi thở của tôi với từng nhịp đập bình dị của phố thị Chợ Lớn.
- Cậu Hai xong chưa? - Tiếng gọi giòn tan của thằng Toàn vang lên ngoài ngạch cửa.
Nó chạy xộc vào, hai tay bưng một chiếc mâm đồng phủ vải điều đỏ thắm. Thằng bé mặc chiếc áo thun mới tinh, mái tóc bù xù thường ngày được chải chuốt gọn gàng bằng chút dầu dừa thơm nức.
- Xong rồi đây. Sao chú mày lăng xăng thế? - Tôi mỉm cười, bước ra khỏi gian buồng nhỏ.
- Cả xóm người ta tới đầu ngõ rồi kìa! - Thằng Toàn đặt chiếc mâm lên bàn thợ, hổn hển nói - Mẹ em bảo đám cưới thợ mộc thì phải rộn ràng từ sáng sớm mới đặng tài đặng lộc. Cậu Hai mau ra mà xem!
Tôi bước ra ngoài hiên. Dưới mái ngói rêu phong của tiệm đồ mộc cũ, khoảng sân đất nện nhỏ bé đã được dọn dẹp phong quang sạch sẽ. Mùi mùn cưa mới cạo hòa cùng hương trầm thơm ngát từ ban thờ tổ nghề bay bổng trong không gian. Lão Thất đang đứng trên chiếc ghế đẩu, cẩn thận dán hai chữ Song Hỷ cắt bằng giấy đỏ lên hai cánh cửa gỗ lim. Nhìn thấy tôi, ông cụ câm điếc quay đầu lại, đôi mắt kèm nhem nheo lại thành một nụ cười hiền hậu. Ông đưa hai ngón tay cái lên, làm động tác chúc phúc bằng ngôn ngữ ký hiệu mộc mạc.
Từ ngoài đầu hẻm, tiếng bước chân, tiếng cười nói râm ran bắt đầu ùa vào.
Người đầu tiên bước qua ngạch cửa là bác Ba thợ xích lô ở căn nhà số mười hai. Bác Ba trút chiếc nón lá đã sờn rách xuống, hai tay trân trọng bưng một âu chè trôi nước bằng gốm Lái Thiêu còn bốc khói nghi ngút.
- Cậu Quang! - Bác Ba cười tươi rói, để lộ hàm răng sún - Bà nhà tôi dậy từ bốn giờ sáng vo nếp, đãi đậu xanh nấu nồi chè này mừng ngày vui của hai đứa. Chè ngọt lịm, viên nào viên nấy tròn vo, cầu cho hai vợ chồng cậu ăn đời ở kiếp vuông tròn như hạt nếp, bền chặt như keo dán mộng!
- Cháu cảm ơn bác Ba, cảm ơn bác gái nhiều lắm ạ - Tôi vội đỡ lấy âu chè, hơi nóng lan qua lòng bàn tay ấm sực.
Tiếp sau bác Ba, từng người một trong xóm nghèo lục tục kéo đến. Cô Năm bán chuối nướng mang sang một buồng cau tươi vừa hái ở vườn nhà dưới Bình Chánh, quả xanh mướt, bóng bẩy. Chú Tám thợ máy đem tặng một chiếc đèn bão bằng đồng cổ mà chú tự tay đánh bóng lộn xộn suốt mấy đêm liền, bảo rằng để hai đứa treo trước hiên xưởng soi sáng lúc đêm hôm cưa đục. Lại có những bà cụ người Hoa hom hem chống gậy bước vào, dúi vào túi áo tôi những phong bao đỏ chứa vài đồng bạc lẻ kèm theo những lời chúc tụng bằng tiếng Quảng Đông chân chất.
Họ đến đây không mang theo những phong bì dày cộp tiền bạc hay những bức tranh phong thủy dát vàng giả tạo như những kẻ từng đến nịnh bợ cha tôi ở các khách sạn năm sao. Những món quà của bà con xóm Hào Sĩ Phường mộc mạc, thấm đượm mồ hôi và tình làng nghĩa xóm.
Tôi nhớ rõ từng gương mặt ấy. Cách đây nửa năm, mái nhà của bác Ba bị dột nát sau một trận mưa lớn, cột kèo nghiêng ngả chực sập, tôi và Thanh Nhã đã đến dỡ từng viên ngói, thay từng thanh rui mè bị mối mọt mà không lấy một đồng tiền công. Căn gác xép tối tăm, ẩm thấp tích tụ uế khí của nhà cô Năm cũng do hai chúng tôi dùng thước Lỗ Ban trổ lại cửa sổ đón gió lành, giúp đứa con gái ốm yếu của cô dần khỏe mạnh trở lại.
Từng mái nhà bình yên dựng lại từ cái tâm thiện lương nay đã kết thành quả ngọt, hóa thành những lời chúc phúc chân thành nhất vây quanh tôi trong buổi sớm mai này.
- Cô dâu tới rồi! Cô dâu tới rồi kìa!
Tiếng bọn trẻ con reo hò ầm ĩ ngoài cổng cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.
Đám đông tự động dạt sang hai bên, nhường lối cho một bóng hình quen thuộc.
Thanh Nhã bước qua ngưỡng cửa gỗ rêu phong. Cô mặc một chiếc áo dài màu đỏ thắm thêu hoa mai trắng giản dị, tà áo buông rủ mềm mại theo từng bước chân. Mái tóc đen nhánh của cô được búi gọn gàng phía sau gáy, cài bằng một chiếc trâm tiện từ gỗ dâu tằm mộc mạc. Gương mặt thanh tú không cần son phấn cầu kỳ vẫn toát lên vẻ rạng ngời, đôi mắt sáng trong lấp lánh phản chiếu ánh nắng ban mai.
Bên cạnh cô không có xe hoa tiền tỷ rước dâu, không có đoàn vệ sĩ mặc vest đen dàn hàng che chắn. Đi bên cạnh Thanh Nhã chỉ có cô Hai bán bún đầu ngõ làm người dẫn lối, tươi cười đỡ lấy giỏ mây đựng trầu cau.
Khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau giữa khoảng sân ngập nắng, một sự xúc động sâu lắng dâng lên nghẹn ngào nơi cổ họng tôi. Chúng tôi đã đi qua biết bao cửa tử, cùng nhau đối mặt với những ngón đòn tàn độc của Hắc Lỗ Ban, cùng lội qua bể máu và oán khí nghìn năm dưới đáy hầm sâu mười hai mét. Giờ đây, đứng trước mặt tôi là người con gái đã dùng cả tính mạng và đức tin của Bạch Lỗ Ban để kéo tôi ra khỏi vũng lầy của sự mộc hóa, dạy cho tôi hiểu thế nào là sự sống đích thực.
Tôi bước tới, chìa bàn tay phải về phía cô. Thanh Nhã mỉm cười dịu dàng, đặt bàn tay mềm mại, nhỏ nhắn của mình vào lòng bàn tay tôi. Những ngón tay thon thả đan chặt lấy nhau, ấm áp lạ kỳ.
- Em đẹp lắm, Thanh Nhã - Tôi khẽ thì thầm.
- Anh cũng vậy, trông ra dáng một ông chủ tiệm mộc đàng hoàng rồi đó - Cô hóm hỉnh đáp lại, gò má ửng hồng e ấp.
Lão Thất gõ ba tiếng vào chiếc chuông đồng nhỏ đặt trên bàn thờ. Tiếng chuông thanh thoát ngân vang, xua tan mọi tạp âm của phố thị, kéo mọi người vào sự trang nghiêm của nghi lễ truyền thống.
Tôi và Thanh Nhã sóng bước tiến đến trước bàn thờ tổ nghề Bạch Lỗ Ban.
Trên chiếc bàn gỗ tràm mộc mạc, bát hương đồng đã cắm đầy những nén nhang thơm ngát. Phía sau bát hương là chiếc thước Lỗ Ban khắc chữ son đã sờn cạnh, kỷ vật gia truyền của dòng họ Lê mà Thanh Nhã luôn trân quý, bên cạnh là cuốn sách "Bảo Gia Vạn Đại" mà tôi vừa hoàn thành ngày hôm qua.
Tôi chắp tay, cúi đầu thật sâu trước linh vị tổ nghề và trời đất.
Không còn những lời khấn vái cầu xin tài lộc vô tận, không còn những bùa chú cướp đoạt vận khí thiên hạ. Trước hương án tổ tiên, tôi chỉ xin trời đất chứng giám cho lòng thành của hai người thợ mộc, nguyện đem bàn tay và cái tâm trong sạch này đi tu sửa những mái ấm rách nát, giữ gìn sự bình yên cho những mảnh đời cơ cực của đất Sài Gòn.
Sau ba hồi lạy tạ, tôi thò tay vào túi áo, lấy ra một chiếc hộp gỗ nhỏ vuông vức. Chiếc hộp mở ra, để lộ hai chiếc nhẫn trơn nhẵn nằm ngay ngắn trên lớp vải nhung đỏ.
Đó là hai chiếc nhẫn do chính tay tôi đẽo gọt suốt nhiều đêm ròng. Chúng được tiện từ mẩu gỗ sưa lành duy nhất còn sót lại sau khi Mộc Tinh hóa thành tro bụi, phần gỗ đã trút bỏ toàn bộ oán khí tà độc để trở về với bản tính thuần khiết của tự nhiên. Thớ gỗ đỏ sẫm ánh lên sắc hổ phách trầm mặc dưới ánh mặt trời, tỏa ra một mùi hương thanh khiết, thơm ngát như hương rừng sau cơn mưa đầu mùa.
Tôi cầm lấy chiếc nhẫn nhỏ hơn, nhẹ nhàng lồng vào ngón áp út của Thanh Nhã. Chiếc nhẫn vừa khít, tôn lên làn da trắng ngần của cô.
- Bằng chiếc nhẫn này, anh xin hứa sẽ cùng em đi trọn cuộc đời - Tôi nhìn thẳng vào mắt cô, giọng nói trầm ấm và kiên định - Dù mai này tiệm mộc có nghèo khó hay sang giàu, dù bão giông ngoài kia có lớn đến đâu, anh cũng sẽ dùng đôi tay này che chắn cho em và mái nhà của chúng ta.
Thanh Nhã xúc động, khóe mắt cô lóng lánh một giọt lệ vui. Cô cầm lấy chiếc nhẫn còn lại, từ tốn đeo vào ngón tay có vết vân gỗ của tôi.
- Chiếc nhẫn này không gắn kim cương, nhưng với em nó quý giá hơn mọi ngọc ngà trên thế gian - Thanh Nhã nghẹn ngào - Em nguyện cùng anh giữ trọn đạo mộc, lấy đức làm gốc, sống một đời an yên dưới mái ngói rêu phong này.
Vừa lúc hai chiếc nhẫn gỗ sưa chạm vào nhau, một luồng sinh khí ấm áp khẽ rung động quanh ngón tay tôi. Đó là sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn của hai con người và linh hồn của loài gỗ lành. Không có phản phệ, không có đau đớn, chỉ có sự bình an lan tỏa khắp lồng ngực.
Bà con xóm Hào Sĩ Phường đồng loạt vỗ tay rầm rộ. Tiếng cười nói, tiếng hò reo vang dội cả một góc trời.
- Hôn đi! Hôn cô dâu đi chú rể ơi! - Tiếng thằng Toàn nhảy cẫng lên hò hét làm mọi người cười ồ.
Tôi nhìn Thanh Nhã, thấy cô khẽ cúi đầu thẹn thùng. Tôi nghiêng người tới, đặt một nụ hôn nhẹ nhàng lên trán cô. Mùi hương gỗ dâu tằm từ mái tóc cô quyện cùng mùi hương gỗ sưa từ chiếc nhẫn trên tay, tạo thành một mùi hương của hạnh phúc đích thực, giản đơn mà sâu lắng.
Tiệc cưới diễn ra ngay tại khoảng sân đất nện.
Những chiếc bàn thợ bằng gỗ tạp thường ngày dùng để cưa xẻ nay được ghép lại thành những dãy bàn dài. Người ta trải lên đó những tấm chiếu hoa mới tinh. Các bà, các cô xúm xít bê thức ăn ra. Không có sơn hào hải vị đắt đỏ, chỉ có mâm xôi gấc đỏ tươi tượng trưng cho may mắn, đĩa thịt luộc chấm mắm tôm chua, âu chè trôi nước ngọt ngào của bác Ba, và những đĩa bánh bò xốp mềm do cô Hai đầu ngõ tự tay hấp.
Lão Thất mở vò rượu nếp ngâm rễ cây thuốc Nam do chính tay ông ủ suốt ba năm dưới chân tường tiệm mộc. Rượu rót ra những chiếc chén sành da lươn, tỏa mùi thơm nồng nàn của nếp cái hoa vàng.
- Nào, mừng cho đôi trẻ! Mừng cho tiệm mộc Chợ Lớn có bà chủ mới! - Bác Ba xách chén rượu đứng dậy, cất giọng sang sảng.
Mọi người cùng nâng chén. Tiếng cụng ly lách cách vang lên rộn rã hòa cùng tiếng gió xào xạc trên những tán bàng. Tôi uống cạn chén rượu nếp cay nồng, cảm nhận hơi ấm lan tỏa từ cổ họng xuống tận đáy dạ dày.
Trong suốt hai mươi lăm năm cuộc đời, tôi từng tham dự hàng trăm buổi tiệc xa hoa tại các trung tâm hội nghị lộng lẫy, từng nâng những ly rượu vang có giá bằng cả năm thu nhập của một người lao động nghèo. Nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy ấm lòng và tự do như lúc này. Ở đây, giữa những người dân lao động lam lũ, không có những nụ cười giả tạo, không có những toan tính hợp đồng thương mại ngầm, cũng không có những âm mưu rắp tâm cướp đoạt sinh mệnh của nhau.
Tôi ngồi bên cạnh Thanh Nhã, chăm chú gắp cho cô một miếng bánh bò xốp. Cô nhìn tôi mỉm cười, ánh mắt chan chứa niềm tin yêu.
Gió từ bờ kênh Tàu Hủ thổi vào lồng lộng, mang theo hơi nước mát rượi xua đi cái nóng bức oi ả của buổi trưa Sài Gòn. Những chiếc lá bàng vàng úa thỉnh thoảng rụng xuống mặt sân gạch, rơi trên những dải lụa đỏ trang trí. Phía trên cao, đàn chim sẻ ríu rít chuyền cành trên những thanh xà gồ rêu phong của mái ngói, hòa giọng cùng tiếng cười nói râm ran của xóm nghèo.
Bầu trời Chợ Lớn hôm nay cao và xanh ngắt, không một gợn mây đen. Màn sương mù tím dị thường từng bao phủ cả thành phố trong những ngày tà thuật hoành hành nay đã tan biến hoàn toàn, trả lại sự thanh tịnh nguyên sơ cho từng tấc đất, từng viên gạch.
Tôi ngửa đầu nhìn lên vòm trời bao la, hít một hơi thật sâu lồng ngực. Cơn ác mộng trăm năm của dòng họ Trần đã chính thức khép lại sau lưng. Mười vạn cây đinh đồng tà ác, những bức tượng gỗ trấn nghiệp nhuốm máu, và những tham vọng trường sinh điên cuồng đã tan thành mây khói dưới lòng đất sâu.
Trước mắt tôi giờ đây là một cuộc đời mới, bắt đầu từ những việc bình dị nhất bên chiếc cưa, chiếc bào, và người con gái tôi yêu.
Tôi siết chặt bàn tay Thanh Nhã. Hai chiếc nhẫn gỗ sưa trên tay chúng tôi lấp lánh dưới ánh nắng chan hòa, như một lời thề nguyền vĩnh cửu về sự trường tồn xây dựng từ phước đức và tình yêu thương. Đêm tối tăm tối tăm nhất đã lùi xa vào dĩ vãng, nhường chỗ cho ánh bình minh rạng rỡ đang dần bao phủ khắp từng ngóc ngách của thành phố thân yêu.