Bến Vô Danh - Chương 36: Trục vớt chính thức
Sáu giờ sáng, đội trục vớt chuyên nghiệp có mặt ở bến An Khánh. Đi đầu là một chiếc cano lớn của lực lượng cứu hộ cứu nạn đường thủy. Trên cano có bốn…
Nội dung chương
Sáu giờ sáng, đội trục vớt chuyên nghiệp có mặt ở bến An Khánh.
Đi đầu là một chiếc cano lớn của lực lượng cứu hộ cứu nạn đường thủy. Trên cano có bốn thợ lặn mặc đồ lặn chuyên dụng, bình khí, đèn pin công suất lớn, và một chiếc cần cẩu mini gắn ở đuôi cano. Theo sau là hai cano của pháp y, chở theo cáng, túi đựng thi thể và thùng dụng cụ khám nghiệm.
Đại úy Bảo đứng trên bến, chỉ huy.
- Mục tiêu một: trục vớt khối bê tông và sợi xích sắt dưới vực Thanh Đa, giữ nguyên trạng làm vật chứng. Mục tiêu hai: tiếp nhận hai thi thể từ ghe ông Ba Thuận, đưa về pháp y theo đúng quy trình.
Ông quay sang ông Ba Thuận, giọng trân trọng:
- Ông Ba, tôi có một đề nghị. Theo nghề của ông, khi kéo xác lên phải có nhang dẫn đường. Tôi muốn mời ông cắm nhang cho cả hai cháu, trước khi chúng tôi làm thủ tục.
Ông Ba Thuận sững người. Ba mươi năm trong nghề, ông cắm nhang cho không biết bao nhiêu người chết, nhưng toàn là lén lút, ban đêm, một mình. Chưa bao giờ có ai, nhất là công an, mời ông làm điều đó giữa ban ngày, trước mặt bao nhiêu người.
- Ông... ông nói thiệt?
- Thiệt. - Bảo gật đầu. - Nghề của ông đáng được tôn trọng.
Ông Ba Thuận cúi đầu, giấu đi đôi mắt đỏ hoe. Ông lặng lẽ bước về ghe, lấy ra bát hương lon sữa bò. Ba nén nhang đỏ mới được cắm vào. Ông châm lửa.
Khói nhang bay lên trong nắng sớm.
Ông bưng bát hương ra mũi ghe, đứng thẳng người, khấn lớn. Lần đầu tiên trong đời, ông khấn mà không cần giấu giếm.
- Hôm nay, trước mặt trời, trước mặt sông, trước mặt pháp luật, tôi, Trần Văn Thuận, đưa hai đứa nhỏ lên bờ. Đứa là con tôi, Trần Minh, chết oan năm năm. Đứa là Trương Tuấn, chết đêm rằm vừa rồi. Hai đứa đi theo khói nhang mà lên, đừng lạc, đừng sợ. Có pháp luật soi đường, có người sống đưa tiễn.
Ông cắm ba nén nhang vào bát hương, đặt bát hương ngay ngắn ở mũi ghe. Rồi ông quay sang Bảo, gật đầu.
- Xong. Các ông làm đi.
Đội thợ lặn bắt đầu xuống nước. Trước khi họ lặn, ông Ba Thuận gọi người đội trưởng lại, dặn kỹ:
- Dưới đó sâu mười tám mét, thành hố dốc đứng. Có cọc sắt rỉ của bọn cát tặc cắm lung tung, có lưới bén mắc kẹt. Các chú lặn xuống thì bám theo dây cáp của cần cẩu mà xuống, đừng bơi lung tung. Dòng xoáy ngầm ban ngày yếu hơn ban đêm, nhưng vẫn có. Thấy bọt sủi ngược thì trồi lên ngay, đừng cố.
Người đội trưởng gật đầu, ghi nhớ từng chữ. Dân chuyên nghiệp nghe dân sông nói là biết ngay người ta thật lòng.
Hai người một cặp, lặn xuống vực Thanh Đa theo đúng tọa độ mà ông Ba Thuận đã chỉ. Mười phút sau, một thợ lặn trồi lên, giơ tay ra hiệu: thấy rồi. Khi lên đến mặt nước, anh ta tháo mặt nạ, mặt tái đi.
- Dưới đó... - anh ta nói với Bảo, giọng còn run, - đúng như ông Ba nói. Cọc sắt chĩa ra như bàn chông. Lưới rách mắc đầy. Khối bê tông nằm kẹt giữa hai cọc, xích quấn mấy vòng. Không có ông Ba chỉ, tụi em mò cả ngày chưa chắc thấy.
Bảo nhìn ông Ba Thuận, ánh mắt vừa nể vừa xót. Người đàn ông này thuộc lòng đáy sông như thuộc lòng bàn tay mình, vì ông đã lặn ở đó không biết bao nhiêu lần, đêm cũng như ngày, để tìm con.
Cần cẩu mini được hạ dây xuống.
Cần cẩu mini được hạ dây xuống. Dưới nước, các thợ lặn buộc cáp vào khối bê tông. Rồi cần cẩu từ từ kéo lên.
Cả bến nín thở.
Khối bê tông từ từ trồi lên khỏi mặt nước. Xám xịt, nặng trịch, rêu bám đầy. Trên mặt khối bê tông, dòng chữ khắc nổi hiện ra rõ mồn một dưới ánh nắng: TP-2019.
Mấy người dân xóm vạn đò ồ lên. Út Nhạn lấy tay che miệng. Hai Lực lắc đầu, chửi thề một tiếng.
Sợi xích sắt được kéo lên theo, rỉ sét đỏ quạch, mắt xích to bằng ngón tay cái. Đầu xích còn nguyên ổ khóa. Một thợ lặn giơ ổ khóa lên cho mọi người xem.
- Ổ khóa còn nguyên! Chưa bị phá!
Đại úy Bảo gật đầu, ra lệnh niêm phong ngay tại chỗ. Khối bê tông và sợi xích được đặt lên cano pháp y, phủ bạt, dán tem.
Xong phần vật chứng dưới nước, đến phần thi thể.
Theo quy trình, hai thi thể phải được đưa từ ghe ông Ba lên cano pháp y bằng cáng. Nhưng khi hai nhân viên pháp y bước đến định nhấc bộ hài cốt Minh lên, ông Ba Thuận giơ tay ngăn lại.
- Khoan.
Mọi người nhìn ông. Bảo bước đến.
- Sao vậy ông Ba?
- Để tôi buộc dây. - Ông Ba Thuận lấy cuộn dây néo xác bọc vải đỏ của mình ra. - Nghề của tôi, kéo xác không bế, không khiêng. Phải dùng dây néo buộc vào cổ tay, kéo đi cho ngay ngắn. Các ông muốn đúng quy trình thì để tôi làm đúng nghề.
Bảo nhìn ông một lúc, rồi gật đầu.
- Được. Ông làm đi.
Ông Ba Thuận quỳ xuống bên bộ hài cốt. Tay ông run run, nhưng động tác thì thuần thục như đã làm ngàn lần. Ông luồn dây qua cổ tay xương của Minh, thắt nút kép. Đầu dây kia, ông buộc vào cổ tay thi thể Tuấn.
Trước khi buộc xong, ông khựng lại. Trên cổ tay xương của Minh, chiếc vòng bạc T-M vẫn nằm đó, sáng lấp lánh dưới nắng. Còn trong tay ông, chiếc vòng M-T của ông vẫn còn.
Ông nhìn hai chiếc vòng một lúc lâu. Rồi ông cẩn thận cất chiếc M-T vào túi áo ngực, vỗ vỗ hai cái.
- Chiếc này ba giữ, - ông thì thầm với bộ xương. - Chiếc của con, con đeo để người ta làm chứng. Đám tang con, ba mang chiếc này đến, cha con mình đeo một cặp lần cuối. Rồi ba để nó ở với con luôn.
Ông biết chiếc vòng T-M phải ở lại trên xương Minh làm vật chứng khám nghiệm. Ông không giành. Pháp luật cần nó để khép hồ sơ. Ông chỉ xin được giữ chiếc của mình đến ngày đưa tang.
Hai cái xác, một sợi dây.
- Đi thôi hai đứa, - ông thì thầm. - Ba đưa hai đứa lên bờ.
Ông ra hiệu. Hai nhân viên pháp y mỗi người cầm một đầu cáng, nhưng không khiêng. Họ để ông Ba Thuận cầm dây, từ từ kéo hai thi thể từ ghe lên cano pháp y, rồi từ cano lên bến. Đúng kỹ thuật dây néo xác: kéo lờ đờ, ngay ngắn, không xô đẩy.
Cả bến im phăng phắc. Mấy chục người dân xóm vạn đò đứng hai bên đường, không ai nói một lời. Mấy bà già chắp tay niệm phật. Mấy đứa trẻ con được mẹ bịt mắt lại.
Út Nhạn đứng ở đầu bến, nước mắt chảy dài. Con bé bán quán nước ở bến này mười năm, chứng kiến không biết bao nhiêu xác trôi qua. Nhưng đây là lần đầu tiên con bé thấy một đám rước xác trang trọng như thế này.
Hai Lực đứng cạnh Nhạn, tay cầm nén nhang cháy dở. Ông Lực không khóc, nhưng mặt ông đỏ bừng, môi mím chặt.
Trên bến, hai chiếc cáng được đặt ngay ngắn. Nhân viên pháp y phủ lên mỗi thi thể một tấm vải trắng. Ông Ba Thuận đặt bát hương lon sữa bò xuống giữa hai cáng, ba nén nhang vẫn cháy, khói bay lên thẳng tắp.
Lần đầu tiên trong ba mươi năm, nghề vớt xác của ông Ba Thuận đứng dưới ánh mặt trời, trước mặt pháp luật, trước mặt cả xóm. Không còn lén lút. Không còn là chuyện cõi âm. Mà là một nghi thức được công nhận, trang trọng như bất kỳ nghi lễ nào.
Đại úy Bảo đứng nghiêm, chào hai thi thể theo điều lệnh. Các cảnh sát phía sau ông cũng đứng nghiêm.
- Đưa các cháu về, - Bảo ra lệnh, giọng trầm.
Hai chiếc xe pháp y lăn bánh, đưa Minh và Tuấn về trung tâm pháp y để khám nghiệm chính thức.
Ông Ba Thuận đứng trên bến, nhìn theo xe khuất dần. Tay ông vẫn cầm cuộn dây néo xác bọc vải đỏ. Ông cuộn nó lại cẩn thận, như cuộn lại ba mươi năm nghề của mình.
Quân bước đến bên ông, đặt tay lên vai ông.
- Ông Ba, xong rồi. Phần còn lại để pháp luật lo.
Ông Ba Thuận gật đầu, nhưng mắt vẫn nhìn về hướng xe đi.
- Ừ. Nhưng chừng nào chưa chôn cất con tôi đàng hoàng, chừng đó tôi chưa xong.
Nắng đã lên cao. Mặt sông lấp lánh. Một ngày mới thật sự bắt đầu trên bến An Khánh.
Và ở đâu đó trên mặt sông, khói nhang từ bát hương lon sữa bò vẫn bay lên, quấn vào nắng sớm, như một lời tiễn biệt.