Cầu Cơ - Chương 24: Sài Gòn Ban Mai - Tiếng Xe Đạp Đá Lạnh Trở Lại

Mặt sàn gạch bông bám đầy một lớp tro xám lạnh ngắt, dính bệt vào gò má và thái dương tôi. Cơn đau buốt từ ngón tay trỏ truyền thẳng lên bả vai, giật…

Nội dung chương

Mặt sàn gạch bông bám đầy một lớp tro xám lạnh ngắt, dính bệt vào gò má và thái dương tôi.

Cơn đau buốt từ ngón tay trỏ truyền thẳng lên bả vai, giật từng hồi nhức nhối. Máu ở vết cắt sâu nơi đầu ngón tay đã bắt đầu đông lại, sền sệt và khô cứng, dán chặt da thịt tôi vào lớp bụi vôi vụn vỡ dưới sàn. Mùi tanh nồng của máu hòa lẫn với mùi đất ẩm mốc bốc lên từ cái hố đen dưới móng nhà, tạo thành một thứ tử khí ngột ngạt đến lợm giọng. Nhưng bên dưới sự đau đớn cùng cực của thể xác, tôi nhận ra lồng ngực mình đang phập phồng.

Tôi hít vào một hơi thật sâu. Không khí trong gian nhà cổ tuy còn vương vất mùi ẩm mốc của gỗ mục nhưng đã mất đi vị tanh tưởi buốt giá của cõi âm.

Sự tĩnh lặng tuyệt đối buông xuống gian phòng khách. Tiếng gầm xé rách màng nhĩ của ông cố Bùi Văn Phát đã im bặt. Làn khói đen kịt của oán hận nửa thế kỷ và bóng hình gầy guộc trong chiếc áo bà ba của bà nội đều tan biến vào khoảng không sau khi chữ THĂNG bùng lên ngọn lửa xanh lục. Miệng hố sâu hoắm nơi góc tường ngưng sủi bọt bùn, lớp đất đen dưới sàn nằm im lìm như một nấm mồ đã khép kín vĩnh viễn sau năm mươi năm mở toang chờ đợi trả thù.

- Linh... mày còn nghe tao nói không? Linh ơi...

Tiếng của Hoàng Minh run rẩy vang lên bên tai tôi. Giọng nó khản đặc, lạc hẳn đi, ngắt quãng bởi những tiếng nấc nghẹn ngào.

Tôi chớp mắt vài lần để gạt đi lớp máu khô dính quanh mi mắt, khó nhọc chống cùi chỏ nâng nửa thân trên dậy. Cả người tôi ê ẩm như vừa bị một cỗ xe nghiến qua. Minh đang quỳ gối ngay sát cạnh Như Ý, hai bàn tay nó bấu chặt lấy vạt áo dính đầy bùn đất của bạn mình. Bàn tay còn lại của Minh bê bết máu tươi, vết cắn nơi mu bàn tay sâu hoắm lộ cả thớ thịt trắng hếu, nhưng khuôn mặt nó lúc này chỉ tràn ngập sự mừng rỡ điên dại.

Dưới sàn gạch, Như Ý nằm ngửa, hai mắt đã nhắm nghiền lại một cách bình yên. Vệt máu đen rỉ ra từ mũi và tai nó bắt đầu khô lại thành những mảng nâu sẫm. Màu tím tái ma quỷ từng bao phủ khắp cổ và mặt nó đã rút sạch, nhường chỗ cho sắc da trắng nhợt quen thuộc của một người sống đang kiệt sức vì bạo bệnh. Lồng ngực nó nâng lên hạ xuống đều đặn theo từng nhịp thở yếu ớt nhưng vững chãi.

- Nó... nó thở lại rồi, Minh sụt sùi, quệt mu bàn tay lem luốc lên mặt làm vệt máu loang lổ khắp trán. Lúc nãy... lúc cái bóng đen kia lao tới, tao tưởng ba đứa mình chết chắc rồi. Linh ơi, tao sợ muốn đứng tim luôn...

- Đừng nói nữa, tôi thều thào, cổ họng bỏng rát như có than hồng cào xé. Giữ sức đi... Đỡ Ý dậy...

Minh gật đầu lia lịa, hai hàng nước mắt ròng ròng chảy dài trên khuôn mặt lấm lem bụi tro. Nó vội vàng cởi chiếc áo khoác ngoài bằng vải dù đã rách bươm của mình ra, cẩn thận gấp lại làm đôi rồi nhẹ nhàng kê xuống dưới đầu Như Ý để đầu bạn không phải chạm vào nền gạch lạnh buốt.

Tôi ngồi bệt trên sàn, hai chân co lại sát vào lồng ngực, dựa lưng vào một góc tủ thờ đã bị đánh gãy một bên chân. Toàn bộ đồ thờ tự trong nhà đều vỡ vụn. Chiếc mâm đồng chạm trổ hoa văn rồng phụng lăn lóc ở chân cột cái, ba chén nước cúng vỡ tan tành thành từng mảnh gốm sắc nhọn găm rải rác trên nền nhà. Tờ giấy bản Cầu Cơ khổ lớn bằng giấy dó vẽ bảng chữ cái Quốc ngữ và hàng số từ không đến chín đã cháy rụi hoàn toàn, không để lại dù chỉ một mẩu tàn giấy nhỏ. Cả chiếc chén sứ úp ngược có vẽ mũi tên son đỏ cũng biến mất không tăm tích, như thể chưa từng tồn tại trên cõi đời này.

Đêm kinh hoàng dài nhất trong suốt hai mươi ba năm cuộc đời tôi cuối cùng đã đi qua.

Một cảm giác nhẹ nhõm đột ngột ập đến, đè bẹp sự sợ hãi vừa trải qua. Tôi đưa hai bàn tay đầy thương tích lên che lấy mặt, bờ vai gầy rung lên bần bật theo từng tiếng khóc nấc nghẹn ngào. Tôi khóc vì nỗi khiếp đảm tột cùng khi đối diện với cái chết, khóc vì thương cho số phận nghiệt ngã của người ông cố bị chôn sống dưới móng nhà năm 1975, và khóc cho cả nửa đời người cắn rứt, giam mình trong nợ nần tội lỗi của bà nội tôi.

Cụ Bùi Thị Sáu đã giữ kín bí mật đó suốt năm mươi năm trời. Cụ góa chồng từ năm ba mươi tuổi, một mình nuôi con, nuôi cháu trong chính căn nhà chứa đựng hài cốt của người cha chồng bị người ta hãm hại. Cụ dặn tôi không được đụng vào bí mật căn nhà trước năm hai mươi ba tuổi, có lẽ vì cụ muốn tôi đủ cứng cáp để đối diện với nghiệp chướng dòng họ, hoặc giả cụ muốn chờ đến ngày tạ tội bằng chính vong linh của mình sau khi nhắm mắt xuôi tay. Đêm nay, máu của tôi và vong hồn của bà đã cùng nhau trả xong món nợ máu ấy.

Khi giọt nước mắt nóng hổi lăn qua vết rách trên gò má tôi, một tia sáng yếu ớt bỗng xuyên qua khe hở của tấm rèm nhung rách nát nơi góc tường.

Tôi ngẩng đầu lên.

Từ ô cửa sổ gỗ lá sách hướng ra mặt đường Trần Nhân Tôn, tia nắng sớm đầu tiên của ngày mới đang rọi thẳng vào gian phòng khách u tối. Luồng ánh sáng màu vàng nhạt, trong vắt như mật ong non, cắt ngang qua những hạt bụi tro đang lơ lửng giữa không trung. Ánh nắng rọi xuống chân cột gỗ lim, chiếu sáng những vết nứt nẻ trên lớp vôi tường mục rỗng, rồi từ từ lan rộng ra khắp mặt sàn gạch bông loang lổ.

Bóng tối nhớp nháp, u uất từng bủa vây căn phòng suốt cả đêm như bị một bàn tay vô hình gạt phăng đi dưới ánh bình minh rực rỡ. Không gian bỗng chốc trở nên sáng tỏ. Mùi không khí ẩm mốc của nấm mồ dần tan biến, thay vào đó là sự ấm áp nhẹ nhàng của ánh mặt trời Sài Gòn đang thức giấc.

RĂNG RẮC!

Một tiếng nứt giòn vang lên từ phía cánh cửa chính của căn nhà cổ.

Tôi và Minh cùng giật nảy mình, đưa mắt nhìn chăm chú về phía cánh cửa gỗ lim ba đời. Lớp sáp đen kịt và nhớp nháp từng niêm phong các khe cửa suốt đêm qua đang nứt toác ra từng mảng, rồi khô giòn lại, bong tróc rơi lả tả xuống bậu cửa.

LENG KENG!

Thanh then cài bằng sắt dày bản, vốn bị một lực lượng vô hình bẻ cong quắp lại như một chiếc móc câu để nhốt chúng tôi bên trong, bỗng nhiên tự động tuột khỏi ngàm giữ. Thanh sắt nặng trịch rơi thẳng xuống phiến đá xanh đặt dưới chân cửa, phát ra những âm thanh kim loại va chạm vang dội khắp gian phòng vắng.

Cánh cửa gỗ nặng trịch khẽ lay động, từ từ hé mở ra một khe rộng chừng nửa gang tay.

Một luồng gió sớm mát rượi ùa vào phòng, mang theo hương vị ồn ã, sống động và quen thuộc của phố xá bên ngoài: mùi khói xe máy quen thuộc, mùi bánh mì nóng giòn từ lò nướng đầu ngõ, và tiếng quét rác sột soạt trên vỉa hè của người lao công.

- Cửa... cửa mở rồi! Cửa mở rồi Linh ơi! Minh mừng rỡ reo lên, giọng nó nghẹn ngào vì xúc động.

Ngay lúc đó, Như Ý khẽ cựa mình trên tấm áo khoác dù. Hai hàng mi của nó run rẩy rồi từ từ mở ra. Đôi mắt nó nhìn chằm chằm lên trần nhà bằng gỗ lim một hồi lâu, dường như đang cố định thần lại sau một giấc mộng dài u tối. Lòng trắng mắt nó trong vắt, không còn một tia máu đỏ hay màng đục ma quái nào nữa.

- Minh... Linh... - Giọng Như Ý cất lên, yếu ớt như tiếng lá rụng. Tao... tao đang ở đâu vậy? Đầu tao đau quá... người tao mỏi nhừ...

- Mày tỉnh rồi! Tạ ơn trời đất, mày tỉnh lại rồi con quỷ nhỏ!

Minh nhào tới, ôm choàng lấy bả vai Như Ý, vừa cười vừa khóc nấc lên như một đứa trẻ. Như Ý ngơ ngác nhìn Minh, rồi lại nhìn sang tôi đang ngồi bệt dưới góc tủ thờ với khuôn mặt đầy máu và đất cát. Nhìn thấy cảnh tượng tan hoang đổ nát của gian phòng khách cùng chiếc bàn thờ tổ tiên gãy vụn dưới đất, một tia kinh hoàng lướt qua đôi mắt nó. Nó nhớ lại từng mảnh ghép của đêm cầu cơ định mệnh: chiếc chén sứ chạy loạn xạ, tiếng gầm thét trong bóng tối, và cảm giác bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt khí quản.

- Tụi mình... thoát rồi hả? Như Ý run rẩy hỏi, bàn tay gầy gò của nó tìm kiếm bàn tay của tôi.

- Thoát rồi, tôi nắm chặt lấy những ngón tay lạnh ngắt của bạn mình, khẽ mỉm cười qua hai hàng nước mắt. Vong đi rồi. Chữ THĂNG đã đóng lại rồi. Tụi mình còn sống, Ý ơi.

Như Ý không kìm được nữa, òa khóc nức nở. Ba đứa chúng tôi chụm đầu vào nhau giữa đống đổ nát của căn nhà ba đời, cùng khóc cho sự sống sót kỳ diệu của chính mình. Những nỗi sợ hãi tột cùng, những khoảnh khắc cận kề cái chết dưới móng nhà đen ngòm giờ đây hóa thành những giọt nước mắt giải tỏa gánh nặng.

- Đi thôi, tôi gạt nước mắt, cố gắng đứng dậy. Chúng ta phải ra khỏi đây ngay. Căn nhà này không thể ở lại thêm một phút nào nữa.

Minh lập tức đứng lên, một tay nó xốc nách Như Ý, tay kia vòng qua eo để nâng bạn dậy. Tôi cũng gắng gượng chống một tay vào vách gỗ, cắn chặt răng chịu đựng cơn đau nhói từ đầu gối và ngón tay trỏ rỉ máu, bước tới đỡ lấy mạn sườn còn lại của Như Ý.

Từng bước chân của ba đứa nặng trĩu trên nền gạch vụn vỡ. Chúng tôi giẫm qua lớp tro tàn của tờ bùa Cầu Cơ, bước qua miệng hố đất đen ngòm nay đã hoàn toàn câm lặng, chầm chậm tiến về phía cánh cửa chính đang hé mở.

Khi đôi chân tôi chạm vào phiến đá xanh nơi bậu cửa, Minh dùng bả vai đẩy mạnh cánh cửa gỗ lim sang hai bên.

Cánh cửa mở toang ra.

Ánh sáng ban mai của Sài Gòn tràn ngập lấy ba đứa chúng tôi, chói lòa và rực rỡ đến mức cả ba phải nheo mắt lại.

Trước mắt chúng tôi, con đường Trần Nhân Tôn đã bắt đầu nhộn nhịp tiếng còi xe máy của những người đi làm sớm. Tiếng leng keng của xe đạp chở đá lạnh. Tiếng rao hàng xôi sáng lảnh lót nơi góc ngã ba. Tiếng cười nói rôm rả của quán cà phê cóc ven đường. Tất cả những âm thanh trần tục, bình dị của cuộc sống đời thường ùa vào tai tôi như một bản nhạc diệu kỳ nhất trần gian. Thế giới của người sống vẫn tiếp diễn ngoài kia, tràn đầy sinh khí và ánh sáng, đối lập hoàn toàn với ngục tù tăm tối chứa chấp oan hồn suốt nửa thế kỷ qua.

Chúng tôi dìu Như Ý bước hẳn qua bậu cửa, đặt chân lên vỉa hè lát gạch xi măng mát rượi. Cơn gió sớm thổi bay lọn tóc rối bù bết máu của tôi, mang lại một cảm giác nhẹ nhõm, tự do chưa từng có trong đời.

Bất giác, tôi dừng bước lại.

Một linh cảm kỳ lạ thôi thúc tôi ngoái đầu nhìn lại vào bên trong gian nhà cổ một lần cuối cùng.

Giữa luồng ánh sáng ban mai vàng rực đang chiếu nghiêng qua bậu cửa, gian phòng khách hoang tàn hiện ra rõ mồn một. Bàn thờ gia tộc họ Bùi nằm nghiêng ngả sát vách gỗ, chân bàn gãy gập, những mảnh vỡ của lư hương bằng đồng nằm rải rác trên nền gạch xám tro.

Thế nhưng, ngay tại vị trí chiếc lư hương bị vỡ nát, một làn khói trắng muốt bỗng nhiên từ từ bốc lên.

Làn khói ấy mỏng manh như sợi tơ trời, uốn lượn mềm mại giữa luồng sáng sớm, không hề tản mát ra chung quanh mà cuộn tròn lại thành một dải lụa trắng thanh khiết. Đi cùng với làn khói ấy là một mùi hương trầm ấm áp, ngọt ngào và thanh tịnh lạ lùng. Đó là mùi trầm hương xịn nguyên chất mà bà nội tôi chỉ đốt vào mỗi dịp giao thừa thiêng liêng, hoàn toàn xua tan đi tất cả mùi ẩm mốc, mùi máu tanh và mùi bùn đất chết chóc của đêm qua.

Làn khói trầm trắng muốt lững lờ trôi lên cao, bao bọc lấy bức di ảnh bằng gỗ mun của cụ Bùi Thị Sáu đang nằm tựa vào vách tường lim.

Tôi nín thở nhìn trân trân vào khung ảnh.

Bức di ảnh chụp bà nội tôi khi cụ tròn bảy mươi tuổi, vốn luôn mang một nét mặt nghiêm nghị, u uất và khắc khổ với đôi lông mày cau lại cùng ánh mắt trĩu nặng những nỗi niềm không thể giãi bày. Cả đời cụ sống trong sự dằn vặt của một kẻ mang ơn và cũng là kẻ tòng phạm gián tiếp giấu đi tội ác của thời loạn lạc.

Thế nhưng, dưới làn khói trầm thanh tịnh và ánh nắng ban mai rực rỡ, những đường nét trên khuôn mặt cụ Sáu trong bức ảnh dường như đã biến đổi. Đôi lông mày cau có giãn ra hoàn toàn. Đôi mắt già nua màu nâu sẫm không còn vẻ u uất bi thương, mà ánh lên một sự nhẹ nhõm vô bờ bến. Và nơi khóe miệng của cụ, một nụ cười mỉm dịu dàng, thanh thản lạ kỳ đang hiện rõ mồn một trên nền giấy ảnh ố vàng.

Đó là nụ cười của một linh hồn đã trút bỏ được gánh nặng nửa thế kỷ, một nụ cười từ biệt đầy yêu thương dành cho đứa cháu gái duy nhất của dòng họ.

Món nợ truyền đời đã trả xong.

Oán thù sâu nặng đã được hóa giải.

Cả người sống lẫn người chết đều đã tìm thấy sự giải thoát cho chính mình khi bình minh ló dạng trên bàn thờ tổ tiên.

- Linh ơi? Sao đứng lại vậy? Đi thôi mày, xe cấp cứu tới đầu đường rồi kìa! Tiếng Minh giục giã bên cạnh kéo tôi trở về với thực tại.

Tôi nhìn sâu vào nụ cười thanh thản của bà nội trong bức di ảnh lần cuối, khẽ gật đầu như một lời vĩnh biệt thầm lặng gửi tới người đã khuất. Sau đó, tôi quay lưng lại, cùng Minh dìu Như Ý bước tiếp về phía con đường ngập tràn ánh nắng và tiếng còi xe rộn rã của buổi sớm mai.

Chương khác

Xem thêm