Cầu Cơ - Chương 21: Sự Thật Về Ông Cố Nội 1975

Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi tôi, quyện chặt cùng thứ mùi ngai ngái của rỉ sét và tanh nồng của máu khô lâu năm. Chiếc hộp sắt tây nằm trơ trọi giữa sàn…

Nội dung chương

Mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi tôi, quyện chặt cùng thứ mùi ngai ngái của rỉ sét và tanh nồng của máu khô lâu năm.

Chiếc hộp sắt tây nằm trơ trọi giữa sàn gạch bông, nắp hộp hé mở một khe vừa đủ để luồng khí buốt giá bên trong tuôn ra ngoài. Lớp giấy niêm phong màu vàng đã đứt lìa làm đôi, mép giấy cháy sém xám xịt sau khi giọt máu của tôi chạm vào nét mực chu sa. Toàn bộ căn phòng khách rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, chỉ còn tiếng gió rít qua khe cửa lá sách và tiếng thở dốc nặng nhọc của Hoàng Minh bên cạnh.

- Linh... cẩn thận... - Minh nuốt nước bọt cái ực, bàn tay cầm điện thoại run bần bật khiến luồng sáng trắng quét loang loáng trên nền gạch - Đừng thò tay vào... tao thấy ghê quá...

Tôi không đáp lại lời cảnh báo của nó. Cả cơ thể tôi dường như bị một lực hút vô hình kéo chặt lấy chiếc hộp kim loại ấy. Bàn tay phải dính đầy máu của tôi run rẩy vươn ra, những đầu ngón tay chạm vào góc giấy ố vàng đang nhô lên khỏi khe nắp.

Mép giấy giòn vụn, lạnh ngắt như một tảng băng vừa vớt lên từ đáy giếng sâu.

Tôi cẩn thận luồn ngón tay vào, chậm rãi kéo vật nằm bên trong ra ngoài. Đó là một tập giấy bản dày cộp, mép giấy bị gặm nham nhở bởi gián và mối mọt, được buộc lại bằng một sợi chỉ đỏ đã ngả sang màu đen sẫm. Ngay chính giữa mặt giấy trên cùng, những vệt ố tròn màu nâu đất in hằn sâu vào từng thớ gỗ - dấu tích không thể nhầm lẫn của những giọt máu đã khô đặc suốt nửa thế kỷ qua.

Tôi gỡ sợi chỉ đỏ. Sợi chỉ mục nát lập tức đứt tung thành từng đoạn nhỏ rơi xuống nền gạch.

Minh nhích lại gần hơn, ghé sát camera điện thoại để rọi sáng từng mặt chữ. Trên trang giấy ngả màu vàng đục, những dòng chữ Quốc ngữ viết bằng bút sắt và mực Tàu đen đậm hiện ra rõ mồn một. Nét chữ gầy guộc, sắc sảo nhưng run rẩy, nghiêng lệch như được viết trong một cơn hoảng loạn tột cùng.

Đó chính là nét chữ của bà nội tôi - cụ Bùi Thị Sáu.

Tôi nhận ra từng nét móc, từng dấu gạch ngang mà thuở nhỏ bà từng cầm tay nắn nót chỉ cho tôi viết trên chiếc bàn tròn bằng gỗ mít. Nhưng lá thư này không mang vẻ dịu dàng của người bà kính yêu trong ký ức. Từng con chữ hằn sâu qua mặt sau của tờ giấy bản, găm vào mắt tôi một chuỗi sự thật tàn khốc:

"Ngày hai mươi chín tháng Tư năm một chín bảy lăm.

Tao viết những dòng này cho đứa con trai duy nhất của tao, hoặc cho đứa cháu nào của dòng họ Bùi sau này mở được chiếc hộp sắt. Nếu mày đọc được bức thư này, nghĩa là tao đã nằm yên dưới ba tấc đất, và bí mật tanh tưởi của cái nhà này rốt cuộc cũng không giấu nổi trời xanh."

Ngực tôi nghẹn đắng. Tôi cắn chặt môi dưới đến bật máu để ngăn tiếng nấc nghẹn ngào, tiếp tục lần giở từng dòng chữ run rẩy:

"Nửa thế kỷ qua, thiên hạ đều nghĩ ông Bùi Văn Phát - chồng tao, cha của thằng Hưng - qua đời vì bạo bệnh ngay trước ngày Sài Gòn giải phóng. Bàn thờ ông ấy nghi ngút khói nhang, người đời khen tao tiết hạnh thủ tiết thờ chồng, nuôi con khôn lớn. Nhưng sự thật không có bệnh tật nào hết. Chồng tao chết vì bị giết. Ông ấy bị chính thằng em họ chí cốt - thằng Bùi Văn Trọng - đập vỡ sọ ngay trên chiếc sập gụ này."

Minh giật thót người, miệng lẩm bắp:

- Đập... đập vỡ sọ?

Mắt tôi dán chặt vào trang giấy thứ hai. Mực Tàu ở trang này có nhiều chỗ bị nhòe đi, tạo thành những đốm tròn loang lổ như dấu nước mắt rơi xuống khi trang giấy còn chưa ráo mực:

"Đêm hôm đó, Sài Gòn loạn lạc như vỡ tổ. Tiếng súng nổ vang trời ngoài ngả tư Bảy Hiền. Thằng Trọng đến nhà gõ cửa, bảo có đường dây tàu biển đưa cả gia đình đi vượt biên, bảo ông Phát gom hết tài sản quý giá để lo lót. Chồng tao tin nó như ruột thịt, đem toàn bộ năm mươi lượng vàng lá cùng số hột xoàn gia bảo tích cóp cả đời giấu dưới đáy tủ thờ ra đếm.

Lợi dụng lúc ông Phát quay lưng cất giấy tờ vào rương, thằng khốn nạn ấy đã cầm chiếc xà beng dùng để nạy ván sàn, giáng một đòn chí mạng vào sau gáy ông ấy. Chồng tao gục xuống ngay tại chỗ, máu từ đỉnh đầu phun ra nhuộm đỏ cả vạt áo bà ba trắng và tấm ván sập gụ. Tao ẵm thằng Hưng - khi ấy mới tròn sáu tháng tuổi - từ dưới bếp bước lên, vừa vặn nhìn thấy nó nhét đống vàng vào bao tải rồi phóng vụt ra màn đêm đen đặc."

Bàn tay tôi run lẩy bẩy làm tập giấy rung lên theo từng nhịp thở dồn dập. Ký ức về bức ảnh thờ trang nghiêm của ông cố nội trên hương án bỗng chốc vỡ vụn. Người đàn ông với đôi mắt nghiêm nghị, mặc áo the đen cổ truyền mà tôi vẫn thường dập đầu lạy mỗi dịp giỗ chạp, hóa ra đã phải chịu một cái chết thảm khốc và đau đớn đến nhường ấy.

Tôi lật sang trang thứ ba. Nét chữ của bà nội ở phần này trở nên gấp gáp, từng nét bút đâm toạc cả thớ giấy mục:

"Tao ôm xác chồng mà chết lặng. Tao muốn gào khóc, muốn chạy ra đường kêu cứu, muốn báo cảnh sát. Nhưng ngoài đường lúc bấy giờ hỗn loạn không ai quản lý, súng đạn bay rào rào qua mái ngói. Nếu tao lộ chuyện nhà có vàng bị cướp, lũ lưu manh sẽ tràn vào giết nốt mẹ con tao để bịt đầu mối. Nếu tao làm đám ma giữa lúc này, tao lấy gì để bảo vệ mạng sống cho giọt máu duy nhất của dòng họ Bùi?

Tao nhìn khuôn mặt biến dạng đầy máu của chồng tao, nhìn đôi mắt ông ấy mở trừng trừng không chịu nhắm lại. Tao biết tao phải làm gì. Tao phải giữ lấy mạng cho thằng Hưng. Tao không thể để dòng họ này tuyệt tự."

Dưới ánh đèn pin nhờ nhợ, Minh ôm lấy ngực, giọng run rẩy:

- Bà... bà nội mày... không lẽ...

Tôi đọc tiếp, từng chữ như mũi kim nung đỏ chọc thẳng vào màng nhĩ:

"Tao dùng hết sức tàn của một người đàn bà vừa sinh nở, tự tay kéo những viên gạch bông dưới gầm sập gụ lên. Tao đào đất suốt đêm ròng. Mười đầu ngón tay tao rách toạc, móng tay bật máu trộn lẫn với đất sét dưới móng nhà. Tao chôn xác chồng tao ngay dưới nền đất lạnh lẽo đó. Miệng ông ấy ngậm đầy đất cát, mắt vẫn trợn trừng nhìn tao oán hận. Tao lấy vôi bột rắc lên khử mùi, rồi tự tay trét xi măng, lát từng viên gạch bông trở lại nguyên trạng.

Sáng hôm sau, tao bế con ra ngõ, báo với chòm xóm rằng ông Phát đã trúng gió độc qua đời trong đêm loạn lạc, thi thể đã nhờ xe hồng thập tự đưa đi chôn cất nơi nghĩa địa vô danh ngoài vùng ven vì đường sá chia cắt. Không một ai nghi ngờ tao. Tao đã chôn sống bí mật đó cùng với xác thịt của chồng tao dưới đáy căn nhà này."

Căn phòng khách bỗng chốc lạnh buốt đến thấu xương. Gió ngoài trời không biết từ lúc nào đã ngừng thổi, nhưng những tấm rèm cửa sổ bằng vải ba lại tự động lay động nhè nhẹ. Mùi vôi chết quyện với mùi đất sét ẩm mốc bốc lên từ kẽ nứt dưới chân sập gụ ngày càng nồng nặc.

Tôi nhìn xuống những viên gạch bông nứt toác dưới chân mình.

Suốt hai mươi ba năm qua, tôi đã chạy nhảy, đã ăn cơm, đã ngủ ngon giấc ngay trên nấm mồ không bia mộ của ông cố nội. Cha tôi lớn lên trên nền đất chôn giấu xác cha mình, rồi sinh ra tôi cũng trong chính gian nhà đầy oán hận này.

Bà nội tôi đã sống cạnh cái xác ấy trọn vẹn năm mươi năm. Người đàn bà góa bụa ấy đã nằm ngủ trên chiếc sập gụ ba đời, bên dưới lưng bà là thi thể của người chồng bị sát hại dã man mà bà đã cắn răng chôn giấu.

Tôi lật sang trang giấy thứ tư. Mặt giấy này lem luốc những hình vẽ bùa chú kỳ quái cùng các ký tự Quốc ngữ viết theo vòng tròn đồng tâm:

"Nhưng oan hồn của ông ấy không chịu yên nghỉ.

Chết oan khuất, chết không nhắm mắt, chết trong nỗi uất hận tột cùng vì bị phản bội và bị vợ chôn vùi trong bóng tối tăm tối, vong linh ông Phát biến thành thứ quỷ dữ gầm rú dưới nền gạch mỗi đêm mười bốn, rằm. Đất dưới gầm sập gụ rung lên bần bật, tiếng cào móng tay ken két dội ngược lên từ lòng đất khiến thằng Hưng khóc ngất vì kinh sợ.

Tao biết nếu cứ để vậy, oán khí của ông ấy sẽ phát tác, kéo theo tai ương hủy diệt cả cái nhà này. Tao phải tìm đường sống cho con tao. Tao lặn lội xuống tận Chợ Lớn, tìm đến một thầy bùa phái Lỗ Ban để cầu xin cách chế ngự.

Thầy cho tao bài toán nghiệt ngã: Muốn giữ cho vong linh không thoát ra hại người, phải dùng thuật Cầu Cơ để lập giao ước, phong ấn linh hồn ông ấy vào chiếc chén sứ và một lá bùa trấn yểm dán trên hộp sắt chôn dưới nền. Hằng đêm, tao phải thắp nến, đặt ngón tay lên chén sứ, đọc lời gọi vong để dẫn dụ oán khí nhập vào bàn cơ, dùng chính máu đầu ngón tay của người vợ mang họ Bùi để xoa dịu cơn thịnh nộ của ông ấy."

- Trời đất ơi... - Minh lùi lại một bước, hai đầu gối nó run lẩy bẩy va vào nhau thành tiếng - Bà nội mày... bà ấy dùng Cầu Cơ để giam cầm vong hồn ông cố suốt mấy chục năm trời...

- Không chỉ giam cầm... - Tôi nghẹn ngào, nước mắt trào ra giàn giụa làm mờ đi những dòng chữ viết tay - Bà nội đang chịu phạt... Bà ấy dùng chính máu và sinh lực của mình để đổi lấy sự bình yên cho ba tao...

Tờ giấy cuối cùng nằm ở đáy xấp tài liệu. Khác với những trang trước viết bằng mực Tàu đen, trang giấy này được viết hoàn toàn bằng mực chu sa đỏ thẫm pha lẫn những vệt máu tươi đã thâm đen lại theo thời gian. Từng nét chữ như gào thét, mang theo một nỗi tuyệt vọng tột cùng của một người biết rõ bản thân đang đi vào ngõ cụt:

"Cái giá phải trả cho việc nghịch thiên trấn yểm người thân là quá đắt. Càng cầu cơ, oán khí tích tụ dưới nền nhà càng dày đặc. Chiếc chén sứ và tờ giấy Quốc ngữ không thể giam giữ ông ấy mãi mãi. Năm tháng trôi qua, bùa chú sẽ mòn, sinh lực của tao cũng cạn kiệt theo tuổi già. Thằng Hưng con tao rồi cũng yểu mệnh ra đi sớm vì bị tử khí ám vào xương tủy.

Tao biết, nợ máu thì phải trả bằng máu. Cái nghiệp chướng tao gieo năm một chín bảy lăm sẽ dồn hết lên đầu đứa cháu gái đời thứ tư - con bé Linh.

Vì vậy, tao để lại lời nguyền tuyệt mệnh này để răn dạy con cháu: Căn nhà này tuyệt đối không được đào bới, không được động đến một viên gạch nào cho đến khi con bé Linh đủ hai mươi ba tuổi - cái tuổi tam tai nặng nhất, cũng là lúc thiên can địa chi xoay chuyển một vòng hoa giáp.

Và đây là điều cấm kỵ cốt tử nhất, hễ ai phạm phải sẽ muôn kiếp không thể siêu sinh:"

Tôi nín thở, ngón tay run rẩy miết dọc theo dòng chữ son đỏ quạch ở cuối trang giấy.

Đó là một dòng tái bút được bao bọc bởi những nét vẽ bùa thắt nút hình thòng lọng - một điềm gở rùng rợn đến mức khiến tim tôi như ngừng đập hoàn toàn:

"Tuyệt đối không được để con cháu đời thứ tư dùng Cầu Cơ gọi hồn tao hoặc khơi gợi lại cái chết của người dưới nền đất.

Nếu con cháu ngu muội làm kinh động đến giấc ngủ của người chết, phạm vào cấm kỵ hỏi ngày chết của người sống, chiếc chén sứ sẽ văng ra, đập vỡ phong ấn nửa thế kỷ. Khi chén vỡ trên đất, vong linh oán hận của ông Phát sẽ hoàn toàn thức giấc khỏi tầng ngục tối.

Khi ấy, ông ấy sẽ không còn nhận ra máu mủ ruột rà.

Để thoát khỏi sự giam cầm dưới móng nhà ba đời, linh hồn khát máu ấy bắt buộc phải tìm một kẻ mang dòng máu trực hệ họ Bùi để thế mạng dưới nền đất lạnh. Đứa cháu gái đích tôn thế hệ thứ tư - Bùi Yến Linh - sẽ là vật hiến tế duy nhất để lấp đầy hố sâu căm hờn của nửa thế kỷ qua."

Trang giấy tuột khỏi tay tôi, rơi lả tả xuống mặt sàn gạch bông.

Một cơn rùng mình dữ dội chạy dọc từ sống lưng lên đến tận đỉnh đầu. Từng mảnh ghép rời rạc trong đêm nay bỗng chốc khóa chặt lại thành một cái bẫy nghiệt ngã mà chính tôi là kẻ tự tay mở chốt.

Chiếc chén sứ nổ tung thành trăm mảnh. Mũi tên son đỏ chỉ về hai chữ "DƯỚI NỀN". Giọt máu trên ngón tay tôi vô tình làm đứt đôi lá bùa niêm phong. Và cấm kỵ thứ ba mà tôi đã dại dột phạm phải khi mở miệng hỏi về ngày chết của một người đang sống.

Tất cả không hề là ngẫu nhiên.

Đó là một chuỗi dây chuyền tai họa đã được định sẵn từ năm một chín bảy lăm. Sự thức giấc của một linh hồn bị chôn sống, bị trấn yểm suốt năm mươi năm ròng rã trong bùn đất và uất hận, nay đã tìm thấy kẻ phải trả giá cho toàn bộ tội ác của thế hệ trước.

Kẻ đó chính là tôi.

- Linh! Chạy đi! - Tiếng thét thất thanh của Minh xé toạc bầu không khí tĩnh mịch.

Nó lao tới chụp lấy cánh tay tôi, cố hết sức kéo giật tôi đứng dậy. Nhưng hai chân tôi nặng trĩu như bị chôn chặt xuống nền xi măng.

Dưới sàn nhà, những viên gạch bông cổ nứt toác bắt đầu bật tung lên.

RẮC! RẮC!

Từng mảng vữa xi măng nứt vỡ rào rào. Máu từ miệng chiếc chén vỡ vụn loang lổ trên mặt giấy bỗng sôi lên sùng sục, sủi bọt đỏ ngầu tanh tưởi. Lớp đất đen sì bên dưới móng nhà bắt đầu đùn lên qua những kẽ hở nứt toác, kèm theo một thứ âm thanh rợn người - tiếng móng tay sắc nhọn cào cấu điên cuồng vào mặt đá hoa cương.

KẸT... KẸT... KẸT...

Tiếng cào cấu mỗi lúc một nhanh, mỗi lúc một mạnh, dội ngược lên từ độ sâu vài tấc đất ngay dưới đầu gối tôi.

Cùng lúc đó, trên bàn thờ tổ tiên, bóng đen mặc áo bà ba màu nâu sẫm của bà nội bỗng nhiên ngẩng phắt đầu dậy. Đôi hốc mắt trống rỗng chảy dài hai dòng huyết lệ đỏ quạch trừng trừng nhìn thẳng vào tôi. Cái miệng méo mó của bà há to ra, nhưng lần này không còn là tiếng khóc hờ ai oán nữa.

Bà nội rít lên một tiếng the thé xé rách màng nhĩ, toàn bộ thân ảnh ma quái lao vút xuống từ trên không trung.

Còn ngay dưới gầm chiếc sập gụ ba đời, giữa lớp đất đen vừa sụt lún thành một hố sâu hoắm, một bàn tay khô đét chỉ còn da bọc xương, những móng tay đen ngòm cắm ngập bùn đất và máu tươi, chầm chậm thò lên, bấu chặt lấy mép gạch bông lạnh ngắt.

Chương khác

Xem thêm