Cầu Vàm Miễu - Chương 9: Sổ Ca Đêm

Chương 9: Sổ Ca Đêm Cơn mưa trên sông Vực Tử vẫn chưa chịu dứt. Nó đã thôi xối xả, chỉ còn rây mỏng như bụi nước, nhưng càng lúc càng dày, giăng thành…

Nội dung chương

Chương 9: Sổ Ca Đêm

Cơn mưa trên sông Vực Tử vẫn chưa chịu dứt. Nó đã thôi xối xả, chỉ còn rây mỏng như bụi nước, nhưng càng lúc càng dày, giăng thành một bức màn xám xịt nuốt gần hết ánh đèn từ phía cầu Vàm Miễu hắt xuống. Chiếc xuồng máy đuôi tôm của Lâm lầm lũi rẽ qua những vệt sóng đục, tiếng máy nổ khi trầm khi bổng, nghe như hơi thở gấp gáp của một kẻ vừa chạy thoát khỏi chỗ chết.

Hạnh ngồi co rúm bên cạnh anh dưới tấm bạt nhựa xanh. Tóc cô bết vào hai bên thái dương, nước mưa lẫn bùn đỏ từ vụ sập nhà ông Sáu Chèo chảy dài xuống cổ áo, để lại những vệt nâu nhạt loang lổ. Cô ôm chặt túi máy ảnh trước ngực như sợ chỉ cần buông tay, những thứ vừa chứng kiến sẽ theo nước tràn vào mà kéo cô xuống sông.

Cả hai im lặng suốt quãng đường. Tiếng nhà sàn đổ sập vẫn còn mắc trong tai họ, cùng hốc mắt rỉ bùn của tấm ảnh thờ trên bàn thờ cũ. Mỗi lần xuồng chồm lên vì gặp sóng, Lâm lại có cảm giác dưới đáy nước có thứ gì đó vừa lướt qua, đen đặc và âm thầm, bám theo họ từ rạch nhà ông Sáu ra tận khúc sông này.

Anh cho xuồng cập vào một bờ đất trơn trượt thuộc khu đất trống của Ban quản lý dự án cũ. Nơi đó từng có những dãy nhà tiền chế lợp tôn, sau nhiều năm bỏ hoang chỉ còn lại những khung sắt rỉ đỏ và những tấm vách bạc màu, xiêu vẹo như sắp gục xuống bất cứ lúc nào. Cỏ dại mọc ngang đầu gối. Nước mưa đọng thành từng vũng đen, bên dưới nổi lềnh bềnh lá mục, bao ni lông và những mảnh gỗ đã trương phình.

Đây từng là khu làm việc của một nhà thầu phụ năm 1994. Giờ nó giống một cái xác bị bỏ quên bên mép nước, phần móng cứ âm thầm bị những đợt sóng sông ăn mòn qua từng mùa lũ.

Cửa kho tài liệu làm bằng sắt tấm đã mục một góc dưới chân. Lâm dùng vai thúc mạnh. Cánh cửa rung lên, bản lề rỉ sét rít một tiếng ken két chói tai rồi miễn cưỡng hé ra một khoảng vừa đủ để hai người lách vào.

Bên trong tối om, mùi ẩm mốc xộc thẳng lên mũi. Đó là mùi giấy cũ bị ngâm qua nhiều mùa nước nổi, mùi keo hồ đã mục, mùi gỗ ép phồng rộp, lẫn cả mùi xác gián khô nằm trong những góc khuất. Lâm bật chiếc đèn pin đeo trên đầu. Luồng sáng trắng xanh quét qua những kệ sắt hoen rỉ xếp san sát nhau. Trên các kệ là những hộp nhựa đựng hồ sơ đã ngả vàng, nắp hộp cong vênh, bên ngoài dán những tờ nhãn bong tróc gần hết chữ.

“Phải tìm nhanh.” Giọng Lâm khản đặc vì lạnh. “Sáng mai đội kiểm định chính thức xuống. Nếu họ phát hiện chúng ta tự ý vào đây, mọi chuyện sẽ rắc rối.”

Hạnh gật đầu. Cô lấy chiếc khăn tay khô duy nhất còn sót trong túi máy ảnh, lau qua ống kính rồi nhét lại cẩn thận.

“Em nhớ từng đọc một báo cáo tóm tắt. Toàn bộ nhật ký thi công giai đoạn một của trụ P19 được lưu bằng bản cứng ở kho này. Thời đó chưa có hệ thống lưu trữ số hóa hoàn chỉnh.”

Lâm đi đến dãy kệ cuối cùng. Trên miếng ván mục gắn ở đầu kệ còn lờ mờ dòng sơn trắng: Công trình cầu Vàm Miễu, hạng mục móng trụ dưới nước, năm 1994. Chữ đã bong gần hết, nhưng số 1994 vẫn còn đậm một cách lạ thường, như cố tình ở lại.

Anh kéo một chiếc hòm tôn rỉ sét ra khỏi kệ. Tiếng sắt cọ xuống nền xi măng vang lên rợn người trong gian kho chật hẹp. Hạnh soi đèn phụ, còn Lâm dùng mũi dao cạy hai chốt khóa đã kẹt cứng. Nắp hòm bật lên, hơi ẩm tù đọng bên trong phả ra lạnh buốt.

Trong hòm là những cuốn sổ tay bìa da đã cứng lại vì từng thấm nước rồi khô đi nhiều lần. Mép giấy quăn queo, nhiều chỗ dính bết vào nhau như da khô. Lâm lật từng cuốn, động tác vừa vội vừa thận trọng. Anh phải dùng mũi dao tách nhẹ từng trang để không làm rách phần chữ viết tay bên trong.

Trang nhật ký ngày 12 tháng 10 năm 1994: thời tiết mưa bão, mực nước sông dâng cao hai mét.

Trang ngày 13 tháng 10 năm 1994: mẻ đổ bê tông thử nghiệm giếng chìm P19 bị rỗ bề mặt, phải xử lý bằng phụ gia đông cứng nhanh.

Ngón tay Lâm dừng lại ở trang ngày 14 tháng 10 năm 1994. Không khí quanh anh như đặc hơn. Đây là đêm xảy ra sự cố mất tích của cha anh, kỹ sư trưởng Nguyễn Minh Huỳnh. Cũng là đêm mẻ bê tông cuối cùng của tim cọc nhồi trụ P19 được đổ xuống lòng sông Vực Tử.

Dưới ánh đèn pin, dòng chữ mực xanh đen hiện lên khá rõ. Nhưng điều làm tim Lâm đập lệch đi một nhịp nằm ở phần ghi nhận ca trực.

Ở cột kỹ sư giám sát ca đêm, cái tên Nguyễn Minh Huỳnh được viết rất nắn nót bằng bút mực xanh. Trên đó, một đường mực đỏ gạch chéo dứt khoát đè ngang qua, sâu đến mức xước cả thớ giấy. Phía trên vết gạch, ai đó viết vội bằng nét chữ nguệch ngoạc: Đổi ca, B. Nghĩa trực thay.

Bên cạnh là một chữ ký nhận rất nhỏ, gần như bị nhòe bởi vệt nước ố vàng.

Lâm đưa ngón tay chạm lên vết mực đỏ. Nét gạch hằn xuống giấy như vết cắt. Người viết đã dùng một lực rất mạnh, hoặc trong lúc tinh thần không còn bình tĩnh.

Hạnh ghé sát vào nhìn. Hơi thở của cô phả nhẹ lên vai Lâm.

“Kỳ lạ quá. Trong hồ sơ lưu trữ chính thức của công ty cầu đường mà em tiếp cận được, báo cáo tai nạn vẫn ghi rõ cha anh là người trực ca đêm đó, mất tích khi đang kiểm tra sàn công tác. Nếu vậy, biên bản đổi ca này từ đâu ra?”

Lâm không đáp. Anh lật sang trang kế tiếp.

Trang ngày 15 tháng 10 năm 1994 hoàn toàn để trống. Không một dòng chữ. Không một dấu ký nhận. Chỉ có một vệt bùn khô màu đỏ bám ở mép giấy, giống như có ai đó với bàn tay dính sình đã lật đến trang này rồi vội vã gấp sổ lại.

“Nguyễn Văn Nghĩa.” Lâm lẩm bẩm cái tên. “Lúc đó là Phó phòng Giám sát kỹ thuật. Người ta gọi là ông Ba Nghĩa.”

Hạnh khựng lại, như cố lục tìm một mẩu ký ức.

“Ba Nghĩa? Có phải người đàn ông bị liệt một bên chân, thỉnh thoảng vẫn ngồi câu cá ở bờ kè dưới chân cầu phía bờ nam không? Em nghe người dân quanh đây nói ông ta từng là cán bộ dự án, nhưng nghỉ hưu sớm ngay sau khi cầu khánh thành. Từ đó đến nay ông ta sống khép kín, không bao giờ bước lên cầu Vàm Miễu dù nhà chỉ cách đó vài trăm mét.”

Lâm đóng cuốn sổ lại, nhét vào trong túi áo khoác chống nước.

“Chúng ta phải tìm ông ta. Nếu ông ta trực thay ca đêm đó, ông ta có thể là người cuối cùng nhìn thấy cha tôi trước khi ông biến mất.”

Họ rời nhà kho khi trời đã về khuya. Mưa chỉ còn lất phất, nhưng sương mù từ mặt sông Vực Tử bắt đầu bốc lên, đặc quánh và lạnh buốt. Những cột đèn xa xa phía cầu Vàm Miễu nhòe đi trong màn nước trắng đục, trông như những con mắt bị phủ màng.

Chiếc xuồng máy lại nổ giòn, hướng về phía rạch Xẻo Lá theo chỉ dẫn của Hạnh. Con rạch nhỏ hẹp hơn họ tưởng. Hai bên bờ, những rặng dừa nước vươn tàu lá dài xuống mặt nước, chồng chéo lên nhau thành những mảng tối dày đặc. Lối đi như bị khép lại từng đoạn. Tiếng nước vỗ bì bọp vào những gốc dừa mục nghe giống tiếng bước chân ai đó đang lội dưới bùn sâu.

Lâm giảm ga rồi tắt hẳn máy, để chiếc xuồng trôi theo dòng nước chảy xiết vào sâu trong rạch. Trong sự im lặng bất ngờ đó, mọi âm thanh trở nên rõ rệt: tiếng lá dừa cọ vào nhau, tiếng côn trùng rền rĩ trong bụi tối, tiếng mái chèo dự phòng va nhẹ vào mạn xuồng, và đâu đó dưới lòng nước là những tiếng ọc ọc như bùn đang thở.

Ánh đèn pin quét qua một ngôi nhà gạch cũ nằm cô độc trên gò đất cao. Nhà thấp, mái ngói âm dương phủ rêu đen, tường ngoài loang lổ vì ẩm. Xung quanh nhà là hàng rào bằng cọc tre vạt nhọn. Trên những cọc tre đó, Lâm nhìn thấy những dải vải đỏ đã mục quấn chặt, bên trên vẽ đầy ký tự ngoằn ngoèo bằng thứ mực đen xỉn.

Hạnh hạ giọng:

“Bùa trấn trạch của phái Lỗ Ban. Ông Sáu Chèo từng nói những người liên quan đến móng cầu năm đó đều phải dùng thứ này để giữ mạng.”

Lâm không đáp. Anh kéo xuồng sát bờ, buộc dây vào một gốc dừa rồi bước xuống. Bùn đỏ ngập đến nửa bắp chân, lạnh và nhớp nháp. Mùi tanh của bùn ở đây nặng hơn những nơi khác. Nó lẫn vị mặn chát của phèn, cùng một mùi rất giống bê tông ẩm lâu ngày không gặp ánh mặt trời.

Hạnh theo sau, bước đi khó nhọc. Mỗi lần rút chân khỏi bùn, cô lại nghe một tiếng chụt nhỏ như có thứ gì đó bên dưới không muốn buông ra.

Ngôi nhà im lìm, không có ánh đèn điện. Trên hiên, một chiếc chuông gió bằng đồng cũ treo lủng lẳng. Khi gió sông thổi qua, nó không phát ra tiếng lanh canh trong trẻo mà chỉ vang lên những tiếng cộc cộc khô khốc, do các thanh đồng đã rỉ sét và dính bết vào nhau.

Lâm gõ cửa. Tiếng gõ khô khốc vang lên trong đêm.

Không có ai trả lời.

Anh gõ lần nữa, mạnh hơn.

Một lúc sau, từ sau cánh cửa gỗ mít nứt nẻ vọng ra giọng nói khàn đặc:

“Ai đó?”

Giọng ấy nghe như hai mảnh gỗ mục cạ vào nhau.

“Cháu là Lâm, con trai của kỹ sư Nguyễn Minh Huỳnh. Cháu muốn hỏi chú về đêm trực ngày 14 tháng 10 năm 1994.”

Bên trong lập tức im bặt. Gió hú qua những khe mái ngói. Chiếc chuông gió trên hiên rung nhẹ, lại phát ra tiếng cộc cộc khô khốc.

Phải gần hai phút sau, then cửa sắt mới lách cách chuyển động. Cánh cửa hé ra một khoảng nhỏ, để lộ khuôn mặt gầy guộc, xám xịt dưới ánh đèn dầu.

Ông Ba Nghĩa đứng sau cửa. Một bên chân ông teo tóp, phải tựa hẳn vào chiếc gậy gỗ mun đen bóng. Đôi mắt đục ngầu, lòng trắng ngả màu vàng phèn, nhìn Lâm với vẻ đề phòng tột độ.

“Cậu nói cậu là con ai?”

“Con của Nguyễn Minh Huỳnh.”

Lâm rút cuốn sổ ca đêm từ trong túi áo, mở đúng trang ngày 14 tháng 10 rồi đưa ra trước ánh đèn dầu.

“Chữ ký này là của chú đúng không? Đêm đó chú đã đổi ca cho cha cháu.”

Ông Nghĩa nhìn chằm chằm vào vết mực đỏ. Ngọn đèn dầu trên tay ông chao mạnh, khiến những bóng đen trên tường nhà nhảy múa méo mó. Mặt ông tái đi. Ông lùi phắt về sau, định đóng sập cửa, nhưng Lâm đã nhanh chân chèn chiếc ủng bảo hộ vào khe.

“Chú Nghĩa, cháu chỉ muốn biết sự thật. Cha cháu đã đi đâu vào đêm đó? Tại sao hồ sơ chính thức lại bị thay đổi?”

Ông Nghĩa nhìn Lâm, rồi nhìn sang Hạnh đang đứng phía sau với chiếc máy ảnh đeo trên cổ. Ánh mắt ông dừng ở chiếc máy ảnh hơi lâu, như nhìn một vật không nên xuất hiện ở đây. Cuối cùng, ông thở ra một tiếng nặng nề.

“Vào đi. Nhưng đóng cửa lại ngay. Đừng để hơi sông lọt vào nhà.”

Căn nhà của ông Nghĩa ngột ngạt đến khó thở. Mùi thuốc bắc, mùi dầu gió và mùi nhang trừ tà quện vào nhau, bám đặc trên những bức tường ẩm. Ở góc nhà, một bàn thờ lớn được dựng trang trọng, nhưng không có ảnh tổ tiên. Trên đó đặt một bức tượng Quan Công bằng đồng đen cỡ lớn, mắt trợn trừng hướng thẳng ra cửa chính. Dưới chân tượng là những bát nhang cắm đầy chân nhang đỏ, vài chén muối hạt đã ngả xám vì hút ẩm, cùng những tấm bùa gấp nhỏ đặt dưới đáy đèn dầu.

Tất cả cửa sổ đều được chèn bằng thanh gỗ. Trên khung cửa có treo những túi vải đỏ đã cũ, bên trong phồng lên như đựng muối hoặc gạo. Hạnh đưa mắt nhìn quanh, nhưng không dám chạm vào bất cứ thứ gì.

Ông Nghĩa ngồi xuống chiếc ghế trường kỷ trầy xước, đặt gậy bên cạnh. Ông không nhìn Lâm mà nhìn chăm chăm vào đĩa muối trên bàn.

“Cha cậu... Huỳnh là một kỹ sư giỏi.” Giọng ông trầm xuống, khàn hơn. “Nhưng ông ấy quá cứng đầu. Ông ấy tin rằng chuyện gì cũng có thể giải thích bằng bản vẽ, bằng số liệu, bằng bê tông và thép. Ông ấy không tin vào lời nguyền của dòng sông Vực Tử.”

“Đêm đó đã xảy ra chuyện gì?” Lâm hỏi.

Anh ngồi xuống đối diện. Hai bàn tay đan chặt vào nhau để giấu cơn run.

Ông Nghĩa im lặng một lúc lâu. Ngọn đèn dầu lụp bụp cháy, làm mùi dầu hỏa lan ra nồng nặc.

“Đêm đó, nước sông Vực Tử không giống mọi khi. Nó không chảy xuôi, cũng không chảy ngược. Nó xoáy tròn quanh giếng chìm của trụ P19. Nước đỏ lòm như máu trâu, bọt sủi lên tanh tưởi. Đội thợ lặn xuống kiểm tra cốt thép đáy giếng, không ai chịu nổi quá ba phút. Họ ngoi lên, mặt cắt không còn hột máu, cứ nói có thứ gì đó dưới đáy kéo chân họ xuống bùn.”

Ông dừng lại, ho khan một tràng dài. Hạnh rót một ly nước ấm từ bình thủy trên bàn đưa cho ông. Ông nhận lấy, đôi tay run đến mức nước sóng sánh tràn ra ngoài.

“Huỳnh đến tìm tôi khoảng mười giờ đêm. Mặt ông ấy trắng bệch. Áo mưa dính đầy bùn đỏ. Ông ấy đưa cuốn sổ ca đêm này cho tôi, bắt tôi ký nhận đổi ca.”

Ông Nghĩa nuốt khan.

“Tôi hỏi lý do. Ông ấy chỉ nói: Tôi phải xuống đáy giếng chìm kiểm tra một chi tiết kỹ thuật. Nếu tôi không lên trước hai giờ sáng, ông phải cho đổ mẻ bê tông cuối cùng ngay lập tức. Không được trễ một phút.”

Lâm đứng bật dậy.

“Sao chú lại đồng ý? Đó là chôn sống người ta!”

“Tôi không muốn!” Ông Nghĩa hét lên. Khuôn mặt gầy guộc co rúm vì kích động. “Cậu tưởng tôi muốn sao? Cậu không biết lúc đó ban quản lý dự án và chủ thầu Nam Thiên ép tiến độ đến mức nào đâu. Nếu mẻ bê tông không được đổ đúng thời điểm, toàn bộ giếng chìm sẽ bị dòng nước xoáy đánh sập. Bao nhiêu người trên sàn công tác có thể chết theo. Cả dự án cũng tiêu tùng. Nhưng đó chưa phải điều đáng sợ nhất.”

Ông đưa bàn tay gầy guộc lên chỉ về phía cửa sổ bị chèn kín.

“Cha cậu đã tự khóa mình bên trong khoang kỹ thuật dưới đáy sông.”

Lâm đứng sững.

Ông Nghĩa nói tiếp, giọng nhỏ dần:

“Huỳnh nói dưới đáy sông có một cửa nước âm. Vị trí trụ P19 đặt đúng vào tâm của nó. Nếu không có vật trấn giữ, cây cầu này sẽ không bao giờ đứng vững. Đêm đó ông ấy mang theo một chiếc hộp sắt nhỏ xuống dưới. Ông ấy tự tay chốt cửa hầm kỹ thuật từ bên trong, nhốt mình cùng cái chốt chặn đó.”

Căn phòng như lạnh hơn. Lâm nghe rõ tiếng máu đập trong tai. Những tiếng gõ từng vang lên từ lòng trụ cầu chợt trở về trong đầu anh, đều đặn và kiên nhẫn.

“Vậy còn mẻ bê tông?” Anh hỏi, giọng lạc đi.

“Đúng hai giờ sáng, tôi không thấy Huỳnh lên.” Ông Nghĩa nhắm mắt. “Tôi gọi qua bộ đàm. Chỉ nghe tiếng rè rè, tiếng nước chảy xiết và một âm thanh như kim loại cạ vào đá. Rồi tôi nghe thấy tiếng gõ.”

Ông mở mắt, nhìn thẳng vào Lâm.

“Tọc. Tọc. Tọc. Tiếng gõ dội lên từ dưới lòng giếng chìm, truyền qua những thanh thép chịu lực. Đó là mã gõ của cha cậu. Ông ấy đang báo: Đổ bê tông đi.”

Hạnh đưa tay che miệng. Lâm không nói được.

Ông Nghĩa cúi đầu, che mặt bằng hai bàn tay gầy guộc. Những giọt nước mắt đục ngầu chảy qua kẽ tay.

“Tôi đã ra lệnh đổ. Hàng trăm khối bê tông tươi trút xuống lòng giếng chìm, đè lên khoang kỹ thuật nơi cha cậu đang ở. Khi mẻ bê tông cuối cùng hoàn thành, tiếng gõ mới dừng lại.”

Ông hạ tay xuống. Mắt ông đỏ ngầu.

“Nhưng nó không dừng hẳn.”

Ngọn đèn dầu chao nhẹ, dù trong nhà không có gió.

“Cứ mỗi chu kỳ chín năm, đúng vào đêm ngày 14 tháng 10, tiếng gõ đó lại xuất hiện. Và mỗi lần tiếng gõ vang lên, sông Vực Tử lại lấy một mạng người. Năm đầu tiên là một công nhân đội cầu. Chín năm sau là chiếc xe khách lao xuống sông. Rồi những chuyện khác, cái nào cũng được ghi thành tai nạn, sự cố, mất kiểm soát tay lái, trượt chân, đuối nước. Người ta thích những cái tên gọn gàng như vậy. Còn tôi thì biết nó chưa bao giờ ngủ yên.”

Hạnh run rẩy lấy điện thoại ra. Cô mở file ghi âm thu được ở trụ P19 cách đó vài tiếng.

“Có phải tiếng gõ này không chú?”

Những nhịp đầu tiên vừa vang lên, ông Nghĩa co rúm người như bị điện giật. Ông vung tay gạt phắt chiếc điện thoại. Nó rơi vào đĩa muối trên bàn, làm muối hạt văng tung tóe xuống nền gạch.

“Tắt đi! Tắt ngay!” Ông gào lên. “Cậu mang nó về đây rồi! Cậu đã đánh thức cái thứ dưới đó!”

Lâm cúi xuống nhặt điện thoại. Anh định nói gì đó trấn an ông lão, nhưng vừa chạm tay xuống nền gạch, anh nhận ra có điều không ổn.

Nền gạch bông cũ kỹ dưới chân họ đang ướt dần.

Ban đầu Lâm tưởng đó là nước mưa từ áo quần mình nhỏ xuống. Nhưng những vệt nước màu đỏ nhạt ấy không thấm vào mạch vữa, cũng không loang tự nhiên. Chúng đang chuyển động.

Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, những vệt nước đỏ ngầu len qua các khe gạch, tụ lại thành một hình thù giống bàn tay năm ngón dài ngoằn ngoèo. Bàn tay nước ấy bò chậm rãi trên nền nhà, hướng về phía chiếc gậy gỗ của ông Nghĩa.

Lâm giật mình lùi lại.

Hạnh nhìn thấy, bật ra một tiếng kêu nhỏ rồi bám chặt lấy tay anh.

“Chú Nghĩa... dưới chân chú...”

Ông Nghĩa nhìn xuống. Khi thấy bàn tay nước đỏ lòm đang bò sát đến chân mình, mặt ông cắt không còn giọt máu. Ông cố dùng chiếc chân lành chống dậy, nhưng chân liệt không nghe lời. Cả người ông đổ nhào xuống nền gạch, ngã ngay trên đống muối hạt vừa văng tung tóe.

Cùng lúc đó, chiếc chuông gió bằng đồng ngoài hiên rung lên dữ dội. Không còn là những tiếng cộc cộc khô khốc. Nó réo thành một chuỗi âm thanh dồn dập, chói tai, như kim loại bị bẻ gãy từng thanh.

Bên ngoài cửa sổ, tiếng nước sông Vực Tử đột ngột dâng lên ào ạt. Sóng vỗ vào chân cột nhà nghe như có hàng trăm bàn tay đang cào cấu lớp ván mục. Một mùi tanh nồng của bùn non và bê tông ướt xộc thẳng vào phòng, lấn át mùi nhang trừ tà.

“Cái chốt chặn...” Ông Nghĩa gào lên, hai tay cào xuống nền gạch, cố lùi về phía bàn thờ Quan Công. “Cái chốt chặn bị gãy rồi! Nó đến đòi nợ! Huỳnh ơi, tôi đã làm theo lời ông mà!”

Lâm lao tới kéo ông dậy, nhưng nền nhà dưới chân bỗng rung lên. Từ dưới sàn gỗ của căn nhà bên rạch, ba tiếng động quen thuộc vang lên rõ ràng.

Tọc.

Tọc.

Tọc.

Tiếng gõ sát ngay dưới chân họ, mạnh đến mức những viên gạch bông rung bần bật. Bức tượng Quan Công trên bàn thờ nghiêng nhẹ, tro nhang rơi xuống thành từng vệt xám. Một vết nứt dài xuất hiện giữa phòng khách, chạy từ cửa chính thẳng đến chân bàn thờ, để lộ khoảng tối dưới gầm sàn.

Bên dưới, nước sông đang cuồn cuộn đỏ ngầu.

Chương khác

Xem thêm