Cầu Vàm Miễu - Chương 6: Ông Kỉnh Chọn Huyệt

Chương 6: Ông Kỉnh Chọn Huyệt Con lộ đất dẫn vào ấp Doi nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo như ruột một con rắn nước nằm phơi mình dưới mưa. Chiếc xe cúp cánh én của…

Nội dung chương

Chương 6: Ông Kỉnh Chọn Huyệt

Con lộ đất dẫn vào ấp Doi nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo như ruột một con rắn nước nằm phơi mình dưới mưa. Chiếc xe cúp cánh én của Hạnh bò từng mét, bánh trước ngập nửa trong bùn đỏ nhão nhoét, thỉnh thoảng trượt ngang làm cả xe nghiêng đi. Lâm ngồi phía sau, một tay ghì chiếc cặp da đựng hồ sơ kỹ thuật, tay kia bám vào thanh sắt rỉ sau yên. Gió từ sông Vực Tử thổi bạt vào mặt hai người, mang theo cái lạnh thấm xương của nước lũ miền Tây cận Tết và mùi bùn non tanh tưởi.

Mùi bùn ấy Lâm đã ngửi thấy ở bệnh viện, trên gấu quần của anh Tư Lộc. Bây giờ nó đậm đặc hơn, quấn chặt hai bên con lộ tẻ, len vào cổ áo, bám trên tóc, trên da như một lớp nhớt vô hình.

Hạnh giảm ga trước một cây cầu ván mục bắc qua con rạch nhỏ. Phía bên kia rạch, khuất sau những rặng dừa nước rậm rạp và bụi ô rô gai góc, là một ngôi nhà sàn lợp lá đã xơ xác. Cột nhà bằng gỗ tràm đen sẫm, cắm sâu xuống lòng bùn. Nước rạch đang ròng, để lộ những bãi sình đen ngòm lổn nhổn vỏ ốc bươu vàng, chai nhựa cũ và rác trôi sông mắc vào rễ đước.

“Nhà ông Kỉnh đó.” Hạnh tắt máy xe, giọng cô bị tiếng mưa át mất một nửa. “Từ hồi cầu Vàm Miễu khánh thành, ổng dọn về đây ở ẩn. Dân trong vùng nói ổng bị người ta chửi rủa vì chỉ sai hướng đất, làm chết mấy mạng công nhân thời đó.”

Lâm bước xuống, giày lún vào bùn đến quá mắt cá. Anh nhìn ngôi nhà sàn im lìm. Không có ánh đèn, chỉ có làn khói xám nhạt len ra từ khe lá dột trên mái, vừa hiện lên đã tan vào màn mưa đặc quánh.

Hai người đi qua cây cầu ván. Mỗi bước chân đều làm mấy tấm ván cũ kêu khục khặc, như có ai đó dưới rạch đang gõ ngược lên. Cánh cửa gỗ thô sơ của ngôi nhà không khóa, chỉ khép hờ bằng một đoạn dây kẽm gỉ. Lâm đứng ngoài hiên, gõ nhẹ lên vách ván ghép.

“Chú Kỉnh có nhà không chú?”

Không có tiếng trả lời. Chỉ có gió rít qua đám lá dừa nước bên hông nhà và tiếng xập xình của dòng rạch đang chậm rãi dâng lên. Lâm đợi thêm một lúc rồi đẩy cửa bước vào.

Bên trong tối om, nồng nặc mùi thuốc rê, mùi nhang củi ẩm và một thứ mùi khó tả giống cá chết bị vùi lâu dưới bùn. Ở góc nhà, trên chiếc chõng tre cũ kỹ, một bóng người gầy guộc ngồi bó gối. Ông già mặc áo bà ba đen sờn rách, một bên ống quần xắn cao để lộ ống chân khẳng khiu như cành tràm khô, da thịt xám ngoét. Một mắt của ông đã hỏng, tròng mắt đục ngầu như mắt cá ươn. Con mắt còn lại hấp háy nhìn Lâm qua làn khói thuốc rê nghi ngút.

“Tìm tao làm chi?” Giọng ông Kỉnh khàn đặc, nghe như hai mảnh ngói vỡ chà vào nhau.

Lâm bước tới gần, đặt chiếc cặp da lên cái bàn tròn bằng gỗ gõ đỏ đã mục một góc. Anh mở cặp, lấy ra tấm ảnh trắng đen ố vàng mà Hạnh tìm được trong kho lưu trữ. Trong ảnh, ông Kỉnh thời trẻ đứng cạnh cha anh, Nguyễn Văn Huỳnh. Cả hai đều mặc đồ bảo hộ lao động, phía sau là giàn giáo khổng lồ của trụ P19 đang thi công dang dở.

“Tôi là Lâm, con trai của kỹ sư Nguyễn Văn Huỳnh.”

Ông Kỉnh khựng lại. Điếu thuốc rê kẹp giữa hai ngón tay vàng khè run lên bần bật. Một tàn lửa đỏ rơi xuống vạt áo bà ba, cháy xém thành một lỗ nhỏ, nhưng ông không buồn phủi. Ông nhìn chằm chằm vào Lâm, rồi từ từ chuyển mắt sang tấm ảnh.

“Con thằng Huỳnh...” Ông lầm bầm, giọng nhỏ dần trong tiếng mưa rơi trên mái lá. “Giống nó như tạc. Nhất là cái trán bướng bỉnh đó.”

“Chú Kỉnh.” Lâm ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, hai tay đan chặt vào nhau. “Tôi mới nhận tin từ đội quét sonar dưới lòng sông. Dưới chân cọc nhồi trụ P19, người ta phát hiện bảy bộ xương người bị xích sắt quấn quanh. Trong đó có một thẻ bài mang tên cha tôi. Có phải năm đó mọi người đã làm lễ trấn yểm không?”

Ông Kỉnh đứng phắt dậy. Chiếc chõng tre rên lên kèn kẹt. Con mắt còn lành của ông long lên, trợn trừng nhìn Lâm đầy giận dữ.

“Trấn yểm? Ai nói với mày là trấn yểm?” Ông hét, nước bọt bắn ra ngoài. “Tụi tao là dân kỹ sư, học hành đàng hoàng ở Sài Gòn về. Ai lại đi làm cái thứ tà thuật thất đức đó! Thằng Huỳnh là bạn tao, nó là đứa giỏi nhất khóa. Mày đừng nghe tụi miệng đời ngoài chợ đồn bậy đồn bạ!”

“Vậy bảy bộ xương đó là gì?” Lâm cũng đứng lên, giọng đanh lại. “Tại sao họ nằm dưới móng cầu ở độ sâu tám mươi mét? Tại sao cha tôi ở đó suốt ba mươi năm mà không ai đi tìm? Hồ sơ thi công mẻ bê tông cuối cùng của P19 vì sao bị xé mất?”

Hạnh đứng bên cạnh, một tay lén bấm nút ghi âm trên chiếc máy nhỏ giấu trong túi áo khoác. Cô nín thở nhìn ông già.

Ông Kỉnh thở dốc, lồng ngực gầy giơ xương phập phồng dưới lớp áo mỏng. Ông quay ra cửa sổ. Ngoài kia, con rạch đang dâng nhanh, nước đã ngập sát mép sàn gỗ. Những bụi dừa nước đổ rạp dưới sức gió, tàu lá dài quật vào vách nhà nghe đành đạch.

“Mày không biết gì hết.” Ông Kỉnh ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm lấy cái đầu hói lấm tấm tóc bạc. “Thằng Huỳnh... nó tự nguyện. Không ai ép nó cả. Cũng chẳng có bùa chú Lỗ Ban nào ở đây hết. Đó là địa thế. Là cái mạng của cả cù lao này.”

Lâm nén cơn giận, ngồi xuống trở lại.

“Chú nói rõ đi. Địa thế gì?”

Ông Kỉnh chậm rãi ngẩng đầu. Ông dùng ngón tay trỏ khô héo nhúng vào chén trà nguội ngắt trên bàn, rồi vẽ một đường ngoằn ngoèo lên mặt gỗ đầy bụi.

“Đây là sông Vực Tử.” Ông chỉ vào đường nước trà. “Đoạn chảy qua Vàm Miễu không phải dòng thẳng. Dưới đáy sông có một cái vực sâu hoắm, dân gian gọi là rốn Hà Bá. Còn trong địa lý phong thủy, đó là Long Khẩu. Miệng của một con rồng nước.”

Ông vẽ thêm một hình thoi dài nằm giữa dòng sông.

“Còn đây là Cù lao Lá. Hơn mười ngàn dân sống ở đó. Vườn chôm chôm, nhãn xuồng, mương cá, mồ mả tổ tiên từ thời khai hoang lập ấp đều nằm trên miếng đất ấy. Mày biết Cù lao Lá nằm ở đâu không? Nó là cái lưỡi nằm trong miệng con rồng.”

Lâm nhìn nét vẽ bằng nước trà loang chậm trên mặt gỗ mục. Từng đường cong mờ dần, nhưng hình dáng con sông vẫn hiện ra rõ rệt trong đầu anh. Suốt tuổi thơ, anh từng đứng trên cầu Vàm Miễu nhìn xuống dòng nước cuộn. Anh chỉ thấy đó là một khúc sông dữ, chưa từng nghĩ dưới mặt nước kia còn có một hình hài khác, một trật tự khác mà những người như ông Kỉnh đã sợ đến bạc tóc.

“Hồi tụi tao khảo sát xây cầu,” ông Kỉnh nói tiếp, giọng trầm xuống, u uất như tiếng nước chảy dưới sàn, “bên thiết kế đưa máy móc tới đo đạc, nói nền địa chất ở đây yếu, dòng chảy xiết quá. Muốn đặt trụ chính thì không có chỗ nào khác ngoài vị trí P19 bây giờ. Nhưng tao đã coi thế đất. P19 nằm đúng ngay yết hầu của Long Khẩu. Đặt một cây cột bê tông cốt thép nặng hàng vạn tấn xuống đó, khác nào cắm một cái chốt khóa miệng rồng lại.”

“Khóa miệng rồng thì liên quan gì đến người chết?” Hạnh không nhịn được, lên tiếng hỏi.

Ông Kỉnh liếc cô bằng con mắt độc nhất. Ánh nhìn lạnh lẽo khiến Hạnh rùng mình lùi lại nửa bước.

“Rồng bị khóa miệng thì không cắn được ai, nhưng nó sẽ cựa. Nước sông Vực Tử chảy xiết là vì nó đang cố thở. Khi tụi tao đổ những mẻ bê tông đầu tiên xuống giếng chìm P19, dòng nước dưới đáy vực bỗng chuyển động điên cuồng. Đổ bao nhiêu đá, bao nhiêu bê tông tươi xuống, dòng nước ngầm bên dưới cuốn sạch bấy nhiêu. Thiết bị định vị đứt cáp. Thợ lặn xuống, có người không trở lên. Lúc đó tao mới hiểu, con rồng không chịu nuốt cái chốt.”

Lâm nghe tim mình đập nhanh hơn.

“Nên mọi người mới chọn cách hiến tế?”

“Không phải hiến tế!” Ông Kỉnh đập mạnh tay xuống bàn, nước trà bắn tung tóe. “Đó là khóa mạng. Nếu không giữ được móng P19 trong đêm đó, dòng xoáy từ Long Khẩu sẽ dội ngược lại, khoét rỗng chân Cù lao Lá. Chỉ cần một đêm động thổ thất bại, toàn bộ cù lao sẽ sụt lún, trượt thẳng xuống lòng sông Vực Tử. Mười ngàn người sẽ làm mồi cho cá. Mày có hiểu không?”

Căn nhà sàn bỗng rung nhẹ. Một đợt sóng từ chiếc ghe máy ngoài sông lớn dội vào rạch, va vào những cây cột tràm dưới sàn, tạo ra âm thanh òm ộp nghe như tiếng thở dài từ lòng nước.

“Đêm đó, mẻ bê tông cuối cùng phải được đổ xuống để cố định tim cọc nhồi,” ông Kỉnh nói, giọng run rẩy. Những ký ức ba mươi năm trước như đang nổi lên trong con mắt đục ngầu của ông. “Nhưng áp lực nước dưới đáy quá lớn. Cốt thép bị vặn xoắn. Lồng thép giữ cọc nhồi sắp bị dòng xiết giật sập. Thằng Huỳnh biết nếu ca đó thất bại, công trình sẽ bị đình chỉ vĩnh viễn. Cù lao có thể không qua nổi mùa lũ năm đó. Nó đã tự trói mình vào lồng thép cùng sáu người công nhân tình nguyện khác.”

Lâm thấy cổ họng khô khốc.

“Cha tôi... tự khóa mình lại?”

“Họ dùng xích sắt tự xích mình vào khung thép chịu lực, làm điểm tựa để giữ cho lồng thép không bị lệch khi mẻ bê tông tươi đổ xuống từ độ sâu tám mươi mét.” Nước mắt rỉ ra từ khóe mắt hỏng của ông Kỉnh, đục ngầu. “Họ dùng chính xương thịt của mình để giữ cho cái chốt P19 đứng thẳng. Bê tông đổ xuống lạnh ngắt, đặc nghẹt. Nhanh lắm. Không kịp hét đâu. Khi bê tông đông kết, họ đã thành một phần của cây cầu. Cái khóa được đóng lại.”

Mưa bên ngoài nặng hạt hơn, gõ liên hồi lên mái lá như hàng ngàn ngón tay. Lâm đứng lặng. Anh đã chuẩn bị cho những giả thuyết tàn nhẫn nhất, cho âm mưu của nhà thầu, cho một cuộc che giấu bẩn thỉu kéo dài ba mươi năm. Nhưng sự thật ông Kỉnh vừa nói lại đè nặng hơn. Cha anh không phải chỉ là nạn nhân của một vụ mưu sát. Ông đã chọn nằm lại dưới đáy sông để giữ cho một mảnh đất được yên.

Không có lễ tang. Không có mộ phần. Không có lời từ biệt gửi về cho vợ con.

Chỉ có một chiếc thẻ bài im lặng dưới bùn đỏ.

Lâm nhìn tấm ảnh cũ trên bàn. Người đàn ông trong ảnh còn trẻ, mắt sáng, môi mím lại như đang cân nhắc một bài toán khó. Bàn tay ông đặt lên lan can giàn giáo, sau lưng là trụ P19 chưa hoàn thiện. Bao năm qua, Lâm đã oán trách sự biến mất ấy. Anh từng tưởng tượng cha mình bỏ đi vì hèn nhát, vì một lỗi lầm không dám đối mặt. Đến hôm nay, lời giải đáp lại giống một khối bê tông lạnh đặt thẳng lên ngực anh.

Rồi anh nhớ đến dòng chữ bằng bùn đỏ trên vách bê tông ở bệnh viện.

“MẠNG ĐÃ ĐỦ. KHÓA ĐÃ MỞ.”

“Chú Kỉnh.” Giọng Lâm run lên, không rõ vì lạnh hay vì sợ. “Nếu cái khóa đó đã được đóng từ ba mươi năm trước, tại sao bây giờ những vết nứt rỉ máu lại xuất hiện? Tại sao tai nạn liên tục xảy ra trên cầu đúng lúc hai giờ mười bảy phút sáng?”

Ông Kỉnh nghe đến đó thì sắc mặt chuyển từ xám ngoét sang trắng bệch. Ông lồm cồm đứng dậy, đi tới bàn thờ nhỏ đặt ở góc nhà. Trên đó có một bát hương lạnh ngắt, vài chân nhang cong queo và một bài vị bằng gỗ mun đen không khắc chữ. Ông run tay thắp ba nén nhang. Khói nhang bay thẳng lên một đoạn rồi bị gió lùa tạt ra ngoài cửa sổ.

“Nước đã đổi màu chưa?” Ông quay lại hỏi Lâm, giọng thều thào.

“Dưới chân P19, nước đang sủi bọt đỏ như máu,” Hạnh trả lời thay. “Thiết bị đo của chúng tôi nhiễu hoàn toàn khi tiếp cận khu vực đó.”

“Khốn kiếp!” Ông Kỉnh chửi khẽ rồi ho sù sụ. “Tụi nó đã làm gì cây cầu rồi? Có phải tụi nó cho người khoan lõi kiểm tra kết cấu không?”

Lâm giật mình. Trong kế hoạch giám định của Tập đoàn Nam Thiên do Trần Quốc chỉ đạo, đúng là có hạng mục khoan lấy mẫu lõi bê tông tại tim cọc nhồi trụ P19 để đánh giá mức độ xuống cấp của cốt thép chịu lực. Việc đó dự kiến bắt đầu vào sáng mai.

“Họ định khoan khảo sát vào sáng mai,” Lâm nói.

“Không được khoan!” Ông Kỉnh lao tới, nắm chặt cổ áo bảo hộ của Lâm. Bàn tay gầy guộc mạnh đến đáng sợ, những ngón tay gãy móng găm vào lớp vải ẩm. “Khoan vào đó là đứt xích. Cái khóa đó được giữ bằng xương cốt của bảy người. Ba mươi năm qua, sắt thép có thể rỉ, nhưng xương cốt của họ đã hóa đá cùng bê tông, giữ thế cân bằng cho dòng nước. Nếu tụi nó dùng mũi khoan kim cương chọc thủng tim cọc, cái chốt sẽ gãy.”

Ông buông Lâm ra, chỉ tay ra ngoài cửa sổ, về phía cầu Vàm Miễu đang ẩn hiện trong sương mưa. Từ góc nhìn này, cây cầu vắt ngang sông như một con rết khổng lồ cố bám chặt lấy hai bờ đất.

“Cái chốt mà gãy, Long Khẩu sẽ há ra.” Ông già thều thào, mắt nhìn trừng trừng vào khoảng không. “Dòng xoáy của sông Vực Tử sẽ không chảy xuôi ra biển nữa. Nó sẽ cuộn lại thành một túi nước khổng lồ ngay dưới chân Cù lao Lá. Trong một đêm, nước có thể rút ruột cả cù lao. Nhà cửa, vườn tược, mồ mả, người sống, người chết... không còn gì hết.”

Lâm nghe tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Tiếng mưa trên mái lá bỗng trở nên hỗn loạn. Trong tiếng gió hú qua kẽ ván, anh lại nghe thấy âm thanh quen thuộc.

Tọc. Tọc. Tọc.

Không phải tiếng mưa.

Tiếng gõ phát ra từ ngay dưới sàn nhà, dưới lớp bùn đen nơi những cây cột tràm cắm sâu xuống dòng rạch.

Hạnh cũng nghe thấy. Cô tái mặt, lùi sát bên Lâm, tay nắm chặt vạt áo anh.

“Lâm... dưới sàn...”

Ông Kỉnh đứng chết lặng giữa nhà. Ba nén nhang trên tay ông tắt phụt, chỉ còn lại ba sợi khói mảnh màu xám đen. Ông cúi nhìn những khe hở giữa các tấm ván sàn.

Từ dưới đó, nước sông đục ngầu màu bùn đỏ đang từ từ đùn lên. Nó len qua các khe ván, chảy loang trên mặt sàn thành từng vệt đặc quánh. Nước không trôi đi mà đọng lại thành những vũng nhỏ, bốc lên mùi tanh nồng của sắt rỉ và xác phân hủy.

Lâm kéo Hạnh lùi về phía cửa. Nhưng bàn chân anh khựng lại khi thấy trong vũng nước đỏ có thứ gì đang nhô lên.

Ban đầu chỉ là một bọt khí lớn, phồng ra rồi vỡ bụp. Sau đó, từ dưới lớp nước đục, một vật dài bằng ngón tay từ từ trồi lên, xoay nửa vòng trên mặt sàn. Nó trắng bệch, lốm đốm bùn đen, một đầu còn vướng sợi rong mục.

Một đốt xương tay.

Hạnh bịt miệng, tiếng kêu nghẹn lại trong cổ.

Ông Kỉnh lảo đảo lùi một bước, lưng va vào bàn thờ làm bát hương rung lên. Tro cũ đổ xuống mặt ván, hòa với nước đỏ thành những vệt nhão nhoẹt.

“Không thể nào...” Ông lẩm bẩm. “Chưa tới giờ. Chưa thể tới giờ được.”

Dưới sàn, tiếng gõ vang lên dồn dập hơn.

Tọc. Tọc. Tọc.

Rồi thêm một tiếng cào rất khẽ, như móng tay quệt qua mặt dưới của ván gỗ.

Lâm cúi xuống, nhìn qua khe hở. Bóng tối bên dưới đặc quánh. Nước rạch đã dâng cao, chạm sát đáy sàn. Trong khoảnh khắc tia chớp lóe sáng ngoài cửa, anh thấy dưới đó có một mảng bùn đỏ cuộn lên thành hình bàn tay, bấu vào cây cột tràm.

Một giọng nói rất nhỏ, ướt sũng và xa xăm, vọng lên từ lòng nước.

“Đừng khoan...”

Chương khác

Xem thêm