Cầu Vàm Miễu - Chương 3: Mẻ Bê Tông Cuối Cùng

Chương 3: Mẻ Bê Tông Cuối Cùng Mùi giấy mục trong kho lưu trữ của Chi cục Đường thủy nội địa có vị chua và chát, như thể hàng chục mùa lũ của sông Vực Tử…

Nội dung chương

Chương 3: Mẻ Bê Tông Cuối Cùng

Mùi giấy mục trong kho lưu trữ của Chi cục Đường thủy nội địa có vị chua và chát, như thể hàng chục mùa lũ của sông Vực Tử đã thấm vào từng thớ giấy, từng kẽ tường. Căn phòng nằm ở tầng trệt của một tòa nhà xây từ thời Pháp thuộc, tường quét vôi vàng bong tróc từng mảng lớn, loang lổ như da người già bị bệnh. Cửa sổ lắp chớp gỗ thông, nhìn ra một con rạch cụt đầy lục bình thối và túi ni lông mắc vào những cọc gỗ mục. Mỗi lần có chiếc sà lan lớn chạy qua ngoài sông chính, những tấm kính cũ lại rung lên bần bật, gieo vào lòng người một cảm giác bất an khó gọi tên.

Lâm ho khan, dùng mu bàn tay quệt lớp bụi dày trên bìa hồ sơ màu xanh rêu. Trên đó có dòng chữ in bằng mực dầu đã phai: Công trình cầu dây văng Vàm Miễu, hồ sơ hoàn công phần móng trụ dưới nước, năm 1994.

Móng trụ dưới nước. Cụ thể là giếng chìm và cọc nhồi của trụ P19, nằm ngay giữa lòng xoáy sông Vực Tử.

Lâm lật từng trang giấy pelure mỏng dính. Tiếng giấy giòn rụm vang lên khô khốc giữa bốn bức tường ẩm ướt. Ngón tay anh lướt qua bản vẽ mặt cắt địa chất, bảng tính toán lực cản dòng chảy, sơ đồ bố trí cọc khoan nhồi, rồi dừng lại ở phần biên bản nghiệm thu đổ bê tông bịt đáy.

Trang 141.

Lâm lật tiếp.

Trang sau là trang 149.

Anh nhíu mắt, vuốt lại phần gáy hồ sơ. Những trang từ 142 đến 148 đã bị lấy mất. Vết rách không phải do thời gian hay mối mọt. Đường cắt thẳng băng, sắc lẹm, để lại những mảnh xơ giấy nhỏ li ti bám dọc đường chỉ khâu gáy. Ai đó đã dùng dao lam rọc những trang này một cách cẩn thận và dứt khoát.

Đó chính là những trang ghi chép về mẻ bê tông cuối cùng của tim cọc nhồi số 4, thuộc trụ P19. Mẻ bê tông được đổ vào rạng sáng ngày hai mươi ba tháng Chạp năm đó, ngày mà cha anh, kỹ sư Huỳnh, bước xuống công trường lần cuối trước khi mất tích.

Tiếng bước chân gấp gáp ngoài hành lang cắt ngang dòng suy nghĩ của Lâm. Hạnh bước vào, mang theo luồng gió lạnh từ cơn mưa giông đang kéo đến ngoài sông. Tóc cô bết lại bên thái dương, áo khoác gió sũng nước. Cô đặt mạnh lên bàn một tập giấy photocopy đã ngả màu xám.

“Tôi tìm thấy cái này ở kho lưu trữ bên Ty Thủy lợi cũ,” Hạnh nói, giọng khàn đi vì lạnh. “Họ không giữ hồ sơ cầu đường, nhưng có lưu báo cáo đánh giá tác động dòng chảy sông Vực Tử năm đó. Trong phụ lục có danh sách nhân sự ban cố vấn đặc biệt. Bên xây dựng chưa từng công bố danh sách này.”

Lâm đón lấy tập giấy. Ngón tay anh chạm vào những dòng chữ đánh máy bằng máy cơ cũ kỹ, nét mực ở chữ o và chữ e bị tịt vì cặn ruy băng. Ở cuối trang, dưới mục Khảo sát địa thế lòng sông, có một cái tên được viết tay bổ sung bằng mực tím đã phai: Nguyễn Văn Kỉnh.

Chức vụ ghi bên cạnh là: Cố vấn địa thế thủy văn.

Ngay phía dưới, ai đó dùng bút chì gạch một đường nhỏ và ghi thêm hai chữ: thầy địa lý.

“Một công trình cầu đường cấp quốc gia, dùng công nghệ hiện đại, lại có thầy địa lý trong ban cố vấn?” Lâm hỏi, chân mày nhíu chặt.

Hạnh kéo chiếc ghế gỗ mục lại gần, ngồi xuống đối diện anh. Mùi bùn tanh từ bến phà cũ vẫn bám trên gấu quần cô, tỏa ra thứ hơi ngai ngái khó chịu. Cô hạ giọng:

“Dân vùng này không gọi ông ta là cố vấn. Họ gọi ông ta là thầy Kỉnh Nam. Ông Kỉnh chuyên coi đất dữ ở vùng cửa sông. Ông Bảy Đò kể với tôi, lúc thiết kế ban đầu, các kỹ sư nước ngoài muốn đặt trụ P19 dịch về phía bờ khoảng ba mươi mét để tránh lòng xoáy sâu nhất. Nhưng ông Kỉnh nói nếu không đóng trụ đúng rốn nước, long mạch sông sẽ giận. Cầu xây xong rồi cũng bị dòng nước bẻ đôi. Chính ông ta bấm giờ, chọn đúng rạng sáng hai mươi ba tháng Chạp để đổ mẻ bê tông cuối cùng.”

“Đêm đó cha tôi có mặt ở đó,” Lâm lẩm nhẩm, mắt vẫn không rời cái tên Nguyễn Văn Kỉnh.

“Không chỉ có mặt.” Hạnh nhìn ra hành lang vắng rồi mới nói tiếp. “Cha anh là người ký lệnh đổ mẻ bê tông đó. Nhưng trong sổ nhật ký ca trực của công nhân mà tôi tìm được ở nhà một cựu tổ trưởng thi công, mẻ bê tông ấy không dùng cát đá thông thường. Họ trộn thêm một thứ phụ gia được chở đến bằng một chiếc ghe mui kín từ phía thượng nguồn. Không ai được biết trong ghe có gì. Chỉ biết khi đổ xuống giếng chìm, nước sông Vực Tử bỗng đứng yên suốt ba mươi phút. Không một gợn sóng, dù lúc đó đang mùa nước đổ.”

Lâm đứng dậy, bước đến cửa sổ. Cơn mưa giông ngoài kia bắt đầu nặng hạt. Mưa quất vào lá ô rô bên bờ rạch, tạo nên những tiếng bộp bộp đều đều. Xa hơn, dưới chân cầu Vàm Miễu, dòng sông Vực Tử cuộn lên những con sóng màu nâu xám, đục ngầu và nặng nề.

“Chúng ta phải ra trụ P19,” Lâm nói. Giọng anh trầm xuống. “Tôi cần lấy mẫu nước sát chân trụ ngay bây giờ. Nước đang lên. Nếu có hiện tượng rò rỉ phụ gia từ lõi bê tông, nó sẽ phát tán rõ nhất vào lúc này.”

Hạnh nhìn anh, đôi mắt hiện rõ lo ngại.

“Giờ này ra sông nguy hiểm lắm. Ông Bảy Đò đã dặn không được lại gần P19 sau khi nước chuyển màu.”

“Tôi là kỹ sư giám định.” Lâm quay lại, ánh mắt lạnh và kiên quyết. “Tôi không tin long mạch hay thủy thần. Tôi chỉ tin vào vết nứt bê tông, tải trọng, độ rỗng và những sai số bị che giấu. Nếu móng trụ P19 có vấn đề về kết cấu, cả cây cầu này có thể sập. Và tôi cần biết cha tôi đã để lại cái gì dưới đó.”

Chiếc ghe đuôi tôm của ông Bảy Đò xé màn mưa lao ra sông Vực Tử. Động cơ Kohler nổ giòn giã, nhưng tiếng máy dường như bị nuốt chửng bởi tiếng gió rít qua những sợi cáp treo của cầu Vàm Miễu phía trên đầu họ. Nhìn từ dưới sông, cây cầu khổng lồ như một con rết xám bắc ngang trời, những sợi cáp văng tỏa ra thành vô số chân mảnh cắm vào màn sương mù dày đặc.

Nước sông dưới chân cầu lúc này không còn màu nâu phù sa của mùa mưa. Nó chuyển dần sang đỏ xỉn, nhớp nháp như nước rửa thịt. Những đám lục bình trôi dạt quanh chân trụ P19 bị nhuộm một màu xám chết, rễ dài quấn vào các mảng rêu bám trên mặt bê tông.

Ông Bảy Đò đứng ở đuôi ghe, một tay giữ tay lái, một tay cầm cây sào tre chống xuống bùn để giữ ghe khỏi bị dòng xoáy kéo đi. Gương mặt ông lão sạm đen vì nắng gió sông nước co rúm lại. Đôi mắt ông nhìn chằm chằm vào những vệt nước đỏ loang quanh chân trụ.

“Không được lại gần hơn nữa!” ông Bảy hét qua tiếng gió. “Nước đang sủi tăm đỏ. Giờ này nước lên, dòng xoáy dưới đó dữ lắm. Nó nuốt cả ghe như chơi.”

Lâm không trả lời. Anh quỳ rạp xuống mũi ghe, hai tay bám chặt vào mạn. Từ khoảng cách năm mét, anh nhìn rõ bề mặt trụ P19. Trụ cầu bằng bê tông cốt thép cao hàng chục mét, đồ sộ và lạnh lẽo, nhưng vào khoảnh khắc ấy, nó giống một thực thể sống đang rỉ máu. Tại vị trí tiếp giáp giữa bệ móng và thân trụ, một vệt nứt chạy dài theo chiều ngang. Từ kẽ nứt đó, chất dịch nâu đỏ, sền sệt rỉ ra, gặp nước sông liền loang rộng thành những vệt đỏ tươi.

Mùi bê tông ướt bốc lên nồng nặc.

Đó là thứ mùi Lâm đã quá quen suốt những năm làm việc trên công trường. Nhưng ở đây, giữa dòng sông Vực Tử lạnh lẽo, mùi bê tông ướt lại có vị ngọt lờ lợ và tanh tưởi như xác động vật phân hủy. Nó bám vào cổ họng, khiến dạ dày anh cuộn lên.

Lâm lấy từ túi bảo hộ ra một chiếc chai thủy tinh chuyên dụng để lấy mẫu nước. Anh buộc chặt dây thừng quanh cổ chai rồi thả xuống vùng nước sát chân trụ. Khi chiếc chai vừa chìm khoảng nửa mét, một lực hút đột ngột ghì lấy sợi dây trong tay anh. Lực kéo mạnh đến mức mạn ghe nghiêng hẳn sang một bên.

“Buông ra, Lâm! Mau buông ra!” Hạnh hét lên, nhoài người tới nắm vai anh kéo lại.

Lâm không buông. Anh nghiến răng, hai chân tì chặt vào sườn ghe, dùng hết sức giật mạnh sợi dây lên. Dây thừng cứa vào lòng bàn tay đau rát. Một khoảnh khắc, anh có cảm giác thứ gì đó dưới nước đang nắm lấy chiếc chai, không muốn để anh mang nó đi.

Rồi lực hút bất ngờ lơi ra.

Chiếc chai bật khỏi mặt nước. Bên trong chứa đầy chất lỏng đặc quánh màu đỏ sậm. Những giọt nước bắn lên mu bàn tay Lâm, lạnh buốt, để lại vệt đỏ mỏng như máu loãng.

Đúng lúc đó, thiết bị đo độ rung và siêu âm bê tông cầm tay đeo bên hông Lâm phát ra những tiếng bíp bíp liên tục rồi tắt ngấm. Màn hình tinh thể lỏng nhấp nháy vài vệt sáng xanh lét trước khi chuyển sang màu đen hoàn toàn.

Lâm đập nhẹ vào vỏ máy, thử khởi động lại. Không có phản hồi.

“Nhiễu quá mạnh,” anh lẩm bẩm. “Hoặc có thứ gì đó đang làm hỏng toàn bộ mạch điện tử.”

“Nhìn kìa,” Hạnh nói, giọng nghẹn lại. Cô chỉ tay vào vách bê tông của trụ P19.

Nước sông quanh chân trụ bỗng sủi bọt ùng ục như một nồi nước sôi. Những bong bóng khí màu hồng nhạt nổi lên, vỡ ra, giải phóng vào không khí mùi tanh nồng của sắt rỉ. Dưới làn nước đỏ, Lâm thấy những vệt đen dài uốn lượn quanh chân trụ như những sợi tóc khổng lồ đang co duỗi. Chúng lúc ẩn lúc hiện trong dòng nước xoáy. Có thể đó là những sợi xích sắt bọc bùa chú mà ông Bảy Đò từng nhắc đến. Cũng có thể chỉ là những đoạn thép chịu lực bị rỉ sét, bong khỏi lớp bê tông bảo vệ.

“Ghe về thôi. Nước quay rồi!” Ông Bảy Đò hét lớn. Gương mặt ông cắt không còn giọt máu. Ông giật dây nổ máy chiếc ghe đuôi tôm. Động cơ khục khặc vài tiếng rồi lịm đi.

Nước sông Vực Tử bắt đầu xoáy tròn quanh chiếc ghe. Mũi ghe bị kéo chệch, hướng thẳng vào vách trụ P19. Hạnh bám lấy thành ghe, mặt tái đi. Lâm nhét nhanh chai mẫu vào túi đệm, một tay giữ lấy cô, tay kia với về phía mạn thuyền.

Ông Bảy dùng cây sào tre chống mạnh vào thân trụ để đẩy ghe ra. Khi đầu sào vừa chạm vào lớp bê tông ướt dưới chân trụ, một tiếng cộc khô khốc vang lên từ sâu trong lòng trụ cầu.

Tiếng gõ.

Không phải tiếng nước đập vào bê tông. Cũng không phải tiếng đầu sào chạm vào mảng đá rỗng. Đó là tiếng gõ đều đặn, ba nhịp một, nghe như búa gõ vào đường ống kim loại.

Cộc. Cộc. Cộc.

Âm thanh truyền qua cây sào tre, rung bần bật trong tay ông Bảy Đò. Ông lão giật mình buông tay. Cây sào trôi tuột vào dòng nước đỏ và biến mất trong nháy mắt.

“Nó đòi nợ.” Ông Bảy Đò lẩm nhẩm, hai tay chắp lại vái liên tục về phía trụ P19. “Nó đòi nợ rồi.”

Lâm nhìn chăm chằm vào vết nứt trên trụ cầu. Chất dịch màu đỏ rỉ ra từ đó đang đông cứng rất nhanh khi tiếp xúc với không khí lạnh, tạo thành lớp vảy nâu đen bao quanh chân trụ. Về mặt kỹ thuật, nó giống cơ chế tự vá của một loại phụ gia bê tông đặc biệt. Nhưng Lâm chưa từng thấy loại phụ gia nào có phản ứng như vậy trong các tiêu chuẩn ngành xây dựng cầu đường. Nó giống một thứ keo sinh học hơn, được dùng để bịt kín một khoảng rỗng lớn bên trong lòng trụ.

Một khoảng rỗng chứa cái gì?

Động cơ cuối cùng cũng nổ lại sau những cú giật điên cuồng của ông Bảy. Chiếc ghe quay mũi, lướt nhanh trên dòng nước đỏ, bỏ lại sau lưng trụ P19 vẫn đang sủi bọt âm u dưới màn mưa trắng xóa.

Tối hôm đó, Lâm ngồi một mình trong phòng trọ bên bến phà cũ. Căn phòng lợp mái tôn, mỗi khi mưa lớn lại vang lên tiếng ồn đinh tai. Bóng đèn tuýp trên trần chớp tắt từng nhịp, ánh sáng xanh nhợt làm mọi vật trong phòng trông như bị ngâm dưới nước.

Trên bàn, chai mẫu lấy từ chân trụ P19 đã lắng xuống. Dưới đáy chai là lớp cặn màu đỏ thẫm như bùn laterit. Phần nước phía trên trong hơn, nhưng mỗi khi Lâm nghiêng chai, nó lại ánh lên sắc hồng mỏng và có độ sánh bất thường. Anh mở nắp thử bằng que giấy chỉ thị. Mùi chát đắng lập tức xộc lên, khiến đầu lưỡi anh tê rần dù chưa chạm vào.

Lâm ghi nhanh vài thông số vào sổ tay, nhưng đầu óc anh không tập trung nổi. Tiếng gõ ba nhịp vẫn lặp đi lặp lại trong trí nhớ, đều đặn và lạnh lẽo.

Anh kéo cuốn sổ tay cũ của cha mình lại gần. Bìa sổ đã sờn, góc giấy cong lên vì ẩm. Ở những trang cuối, cha anh vẽ nhiều sơ đồ hình học kỳ lạ, không giống bản vẽ kỹ thuật cầu đường. Đó là những vòng tròn đồng tâm bao quanh một điểm đen duy nhất. Bên cạnh mỗi vòng tròn có ghi con số đo độ sâu của sông Vực Tử, cùng vài ký hiệu mà Lâm chưa giải được.

Một trang giấy có dòng chữ mờ, nét bút run và gấp:

Không khoan vào lõi nếu chưa biết khóa nằm ở đâu.

Lâm nhìn dòng chữ rất lâu. Cơn mưa trên mái tôn dày lên, dồn dập như có ai đang rải sỏi từ trên cao xuống. Ngoài cửa sổ, bến phà cũ chìm trong bóng tối, chỉ còn vài ngọn đèn vàng lay lắt bên mép nước.

Điện thoại đặt trên bàn bỗng rung lên.

Một tiếng bíp ngắn báo có tin nhắn mới.

Lâm cầm điện thoại. Người gửi là một số máy lạ, không có trong danh bạ, chỉ hiện một dãy số dài với mã vùng quốc tế lạ mắt. Anh mở tin nhắn.

Đó là một bức ảnh trắng đen đã mờ, góc ảnh ố vàng và có vết cháy xém ở rìa. Trong ảnh, dưới ánh đèn măng sông tù mù của công trường đêm đổ móng năm 1994, hai người đàn ông đứng trên sàn đạo thi công bằng sắt, sát mép giếng chìm của trụ P19.

Một người là cha của Lâm, kỹ sư Huỳnh, lúc ấy còn trẻ, gương mặt hốc hác, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ. Người bên cạnh thấp hơn, mặc áo bà ba màu tối, tay cầm một chiếc la bàn bằng đồng đen. Ông ta nhìn thẳng vào ống kính với nụ cười lạnh lẽo.

Đó là Nguyễn Văn Kỉnh.

Bên dưới bức ảnh có một dòng chữ không dấu:

Dung khoan loi P19. Khoa cua nuoc con nguoi giu.

Lâm cảm thấy máu trong người như đông cứng. Anh phóng to bức ảnh, nhìn chằm chằm vào khoảng tối phía sau lưng cha mình và ông Kỉnh.

Ngay trên miệng giếng chìm của trụ P19, giữa những thanh thép chịu lực, có một bóng trắng mờ mờ lơ lửng. Bóng đó có hình dáng một người phụ nữ tóc dài. Hai tay bị xích chặt vào khung sắt.

Bên ngoài, tiếng sấm nổ vang rền trên sông Vực Tử. Ánh chớp lòe qua khe cửa sổ, soi rõ chai mẫu trên bàn.

Lớp nước đỏ bên trong đang bắt đầu sủi lên những bong bóng nhỏ màu hồng nhạt.

Chương khác

Xem thêm