ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 2: Vết Móng Trên Thân Cây

Sau khi chiếc lông được gói lại, khoảng rừng quanh sườn Ngọc Hoa không còn là chỗ để đứng nhìn nữa. Nó thành một hiện trường, và Vũ Đình Khoa làm việc…

Nội dung chương

Sau khi chiếc lông được gói lại, khoảng rừng quanh sườn Ngọc Hoa không còn là chỗ để đứng nhìn nữa. Nó thành một hiện trường, và Vũ Đình Khoa làm việc như người đã quen giữ cho mọi thứ có thứ tự, kể cả khi thứ tự ấy đang bị mười hai cái xác treo trên đầu thách thức.

Anh chia đội thành hai nhóm. Một nhóm chụp ảnh, quay phim từng gốc cây, đánh dấu bằng dải vải đỏ để chiều còn quay lại đúng chỗ. Nhóm còn lại đo bằng thước dây và máy đo khoảng cách cầm tay. Thân đi cùng nhóm đo, không phải để cầm thước, mà để giữ cho họ khỏi kết luận vội.

- Ghi chiều cao chạc có xác, Khoa dặn. - Ghi cả hướng xác treo, vết trên vỏ cây, và khoảng cách giữa các cây. Đừng ghi suy đoán vào sổ. Suy đoán để nói miệng với nhau thôi.

Thân gật đầu. Ông thích cách làm ấy. Nếu Khoa giữ sổ sách sạch, sau này dù kết luận là gì, người ta cũng phải nhìn vào số đo trước.

Họ bắt đầu từ cây có xác hoẵng gần nhất.

Thân đứng dưới gốc, ngửa cổ nhìn những vết cào trên vỏ cây ở độ cao ngang tầm xác. Dưới ánh sáng ban trưa rọi qua tán lá, ông thấy rõ: bốn vết song song, cào sâu vào vỏ, ăn cả vào phần gỗ non bên trong. Mỗi vết rộng bằng ngón tay út, mép gỗ xé ra như bị móc sắt kéo xuống. Khoảng cách giữa các vết đều nhau một cách đáng sợ.

- Đo khoảng cách giữa hai vết ngoài cùng, rồi chia ra. Thân nói.

Một kiểm lâm viên trèo lên thang dây tới gần, áp thước, đọc to từng con số. Khoa đứng dưới ghi lại, đọc lại một lần cho cả đội nghe.

Bốn vết móng song song, mỗi cặp vết cách nhau khoảng mười hai phân. Hướng cào từ trên xuống dưới, hơi chếch vào trong, như một bàn chân có vuốt vừa quắp lấy thân cây rồi ghì xuống bằng sức nặng khủng khiếp.

Họ sang cây thứ hai. Lại bốn vết. Cùng khoảng cách. Cùng hướng.

Cây thứ ba có xác trâu rừng còn rõ hơn nữa. Vỏ cây bị cào thành một mảng dài từ chạc xuống, bốn đường sâu hoắm, gỗ tươi lộ ra đã thâm lại vì mấy ngày nắng gió. Một kiểm lâm viên trẻ đưa tay sờ vào vết cào, rồi rụt lại.

- Thú nào có móng cách nhau mười hai phân thế này hả ông? Cậu ta hỏi. - Gấu ngựa cũng không to thế này. Mà gấu leo cây thì phải có vết ở cả mặt dưới, vết trèo lên chứ.

- Gấu không treo trâu lên cây. Thân đáp. - Hổ cũng không. Báo hoa mai tha mồi lên cây thật, nhưng nó tha con mồi nhỏ hơn nó, và nó để lại dấu răng ở cổ, dấu móng ở cả đường leo. Ở đây không có đường leo. Chỉ có vết từ trên trời sà xuống.

Khoa đi một vòng quanh gốc cây, cúi xuống xem xét mặt đất lần nữa. Lá khô nguyên vẹn, trừ những chỗ đội vừa giẫm qua. Không phân thú lạ, không lông thú lạ rụng dưới gốc, ngoài chiếc lông Thân đã rút ra ở cây đầu tiên. Anh đứng thẳng dậy, phủi tay.

- Đối chiếu hết các loài trong vườn chưa? Anh hỏi người phụ tá của mình.

- Rồi anh ạ. Người kia mở sổ. - Thú ăn thịt lớn nhất còn ghi nhận ở Ba Vì cũng không có khả năng đưa trâu rừng lên hai mươi lăm mét. Không loài nào có vuốt cách nhau mười hai phân theo kiểu này. Không loài nào móc ruột rồi bỏ xác treo như thế mà không ăn tại chỗ.

Khoa gật đầu. Anh nhìn lên những cái xác một lượt cuối, rồi ra quyết định mà Thân biết anh đã cân nhắc từ lúc còn trên cây đầu tiên.

- Báo cáo lên trên chỉ ghi một câu thôi, anh nói với cả đội. - Thú dữ lớn chưa xác định, đang điều tra. Không ghi chim, không ghi quái vật, không ghi bất cứ chữ nào mình chưa chứng minh được. Ai hỏi thì nói đang chờ kết quả kiểm tra hiện trường. Tin đồn mà lan ra trước khi có kết luận, dân dưới chân núi sẽ hoảng, trâu bò sẽ bị bán tháo, đường lên đền sẽ vắng, lúc đó còn rối hơn.

- Còn mười hai cái xác này? Một người hỏi.

- Cứ để nguyên cho tới khi có phương án hạ xuống an toàn. Chụp đủ rồi. Chiều nay trạm sẽ cử thêm người mang lưới và dây. Thân quay sang Thân. - Ông Thân, ông thấy còn gì ở hiện trường này mà chúng tôi chưa nhìn ra không?

Thân im lặng một lúc. Ông nhìn bốn vết móng trên thân cây trâu rừng, rồi nhìn bàn tay mình, nơi vết cứa của chiếc lông đã se lại thành một đường đỏ mảnh.

- Nó không ăn ở đây, ông nói. - Nó giết, nó móc ruột, rồi nó treo lên. Hoặc nó treo lên rồi mới móc. Dù kiểu nào, chỗ này không phải chỗ nó ở. Đây chỉ là chỗ nó bỏ lại. Muốn biết nó ở đâu, phải nhìn hướng nó bay, không phải nhìn xác nó treo.

Khoa ghi cả câu ấy vào đầu, dù không ghi vào sổ.

Đội rút xuống núi vào đầu buổi chiều, khi nắng đã đứng bóng và sương tan gần hết. Đường xuống nhanh hơn đường lên, nhưng không ai nói chuyện nhiều. Mười hai cái xác như vẫn treo trong đầu từng người.

Ở đầu thôn Yên Sơn, Bùi Văn Thịnh, trưởng thôn năm mươi tám tuổi, đang đứng chờ bên gốc đa, tay cầm chiếc mũ cối. Thấy đội xuống, ông bước nhanh tới đón Khoa trước, rồi mới nhìn sang Thân.

- Nghe người đi rừng nói ở trên ấy có chuyện, Thịnh nói. - Tôi đứng đây chờ từ trưa. Có đúng là thú dữ không các anh?

Khoa trả lời đúng như những gì anh đã chốt với đội: hiện trường đang được kiểm tra, trạm sẽ có thông báo chính thức, trước mắt đề nghị thôn nhắc dân không lên rừng một mình và không thả trâu bò lên sườn núi vào ban đêm. Anh nói chậm, rõ, không thêm một chữ thừa.

Thịnh nghe xong không hỏi thêm về xác thú. Ông hạ giọng, nhìn quanh như sợ người qua đường nghe thấy.

- Còn một việc nữa, tôi phải báo với anh Khoa và ông Thân luôn ở đây. Cuối tháng ba vừa rồi, hai anh em họ Trần trong thôn mình đi lấy mật ong rừng, tới nay chưa về.

Thân ngẩng phắt lên.

- Sơn và Hải à? Ông hỏi.

- Vâng. Thịnh gật đầu. - Trần Văn Sơn ba mươi chín, Trần Văn Hải ba mươi lăm. Hai anh em đi từ hôm hai mươi tám, nói vào rừng hai ngày rồi ra. Nhà chờ ba ngày không thấy, đã tổ chức người đi tìm quanh những chỗ chúng nó hay đặt ong, không thấy người, không thấy gùi, không thấy dấu bếp lửa. Nhà đã làm cỗ cúng gọi hồn hai hôm nay rồi. Không thấy xác.

Gió thổi qua gốc đa làm lá xào xạc. Thân đứng yên, tay phải vô thức chạm vào túi áo ngực, nơi chiếc lông gói trong khăn vẫn nằm đó.

Ông biết lệ cũ của vùng này, cái lệ không ai viết thành văn mà người già nào quanh chân Ngọc Hoa cũng thuộc: người mất trong rừng quanh đỉnh núi, xưa nay hiếm khi tìm thấy xác. Năm 1983, sau khi cha ông không trở xuống nữa, ông mới hiểu có những lệ được truyền lại không phải để dọa trẻ con.

- Nhà chúng nó đã báo xã chưa? Khoa hỏi.

- Báo rồi. Thịnh nói. - Nhưng chưa nối với chuyện trên núi hôm nay. Tôi cũng không dám nối bừa. Chỉ là hai việc cùng ở một vùng rừng, cùng vào cuối tháng ba, nên tôi phải nói.

- Anh làm đúng. Khoa đáp. - Trạm sẽ ghi nhận cả hai việc. Nhưng cũng như chuyện trên kia, chưa có bằng chứng thì chưa kết luận là một mối. Anh về nhắc lại với thôn cho tôi: từ hôm nay, không ai lên rừng một mình, trâu bò dồn về chuồng gần nhà trước khi trời tối. Ai có người nhà hay đi rừng thì báo danh sách cho thôn và cho trạm.

Thịnh gật đầu, đội mũ lên, nhưng trước khi đi còn nhìn Thân rất lâu, như muốn hỏi thêm điều gì mà lại thôi. Thân hiểu cái nhìn ấy. Trong thôn, ai cũng biết nhà họ Hà từng mất người trên đỉnh Ngọc Hoa, và ông đã gác nỏ hơn bốn chục năm.

Về tới nhà, Hà Thị Sen đã dọn cơm chiều. Con gái ông bốn mươi tuổi, dạy học ở trường tiểu học của xã, tính thực tế, hay cằn nhằn vì lo cho cha. Thấy tay ông có vết cứa, cô cau mày.

- Bố lại để cây cứa à? Cô hỏi. - Hay đá?

- Cành khô thôi. Thân nói dối vụng về, rồi rửa tay, ngồi vào mâm. Hà Minh Quân, cháu ngoại ông mười sáu tuổi, mấy lần ngẩng lên định hỏi chuyện trên núi, nhưng Sen gắp thức ăn vào bát con trai và lườm một cái, cậu lại cúi xuống.

Bữa cơm trôi qua với những chuyện thường ngày. Thân ăn ít, nói ít. Chiếc lông ông đã gói lại trong một chiếc khăn sạch hơn, để tạm trong ngăn kéo bàn thờ. Ông không muốn Sen nhìn thấy nó tối nay.

Đợi Sen và Quân đã ngủ, nhà đã tắt đèn ngoài, Thân mới trở dậy.

Ông đi chân đất qua gian giữa, tới trước bàn thờ. Ảnh cha ông, Hà Văn Cừ, đặt ở vị trí trang trọng nhất, khung gỗ đã cũ, mặt kính mờ. Bên dưới bàn thờ là chiếc rương gỗ lim, khóa đồng đã xỉn màu, là nơi họ Hà giữ những thứ không bao giờ mang ra khoe với người ngoài.

Thân quỳ xuống, mở khóa.

Nắp rương bật lên với tiếng bản lề khô khẽ. Mùi gỗ lim và mùi vải cũ xộc lên, thứ mùi ông đã không ngửi gần như nguyên vẹn suốt nhiều năm, vì những lần mở rương gần đây ông chỉ mở hé rồi đóng lại ngay.

Bên trong, cây nỏ lim bọc đồng nằm trên lớp vải điều đã phai màu. Thân nỏ dài, gỗ đen bóng ở những chỗ tay người qua các đời cầm nắm, những đai đồng ôm quanh thân đã lên nước xanh mờ. Dây nỏ cuộn gọn bên cạnh. Ống đựng tên đặt song song với nỏ, nắp đóng kín.

Thân đưa tay chạm vào thân nỏ. Gỗ lạnh. Bàn tay bảy mươi hai tuổi của ông, với những đốt ngón đã hơi run khi trời tối, đặt lên chỗ tay cầm quen thuộc của hơn bốn chục năm trước. Một lúc lâu ông không nhấc nỏ lên, chỉ ngồi trước bàn thờ cha, nghe tiếng côn trùng ngoài sân và tiếng gió rất xa trên đỉnh núi.

Ông không mở ống tên tối nay. Chưa phải lúc để đếm lại những gì còn trong đó, dù trong đầu ông, con số ấy chưa bao giờ mờ đi.

Cuối cùng, Thân đóng nắp rương lại, khóa cẩn thận, rồi đứng dậy thắp thêm một nén hương cho cha. Khói hương bay thẳng lên trong không khí lặng của gian nhà.

Trước khi về buồng, ông đứng lại bên cửa sổ nhìn về phía đỉnh Ngọc Hoa chìm trong đêm, chỉ còn là một khối đen lớn hơn cả bóng tối xung quanh.

- Mới có đầu mùa sấm, ông lẩm bẩm một mình, giọng nhỏ đến mức như nói với chính chiếc rương vừa đóng. - Nếu đúng là nó, thì mới chỉ là bắt đầu.

Chương khác

Xem thêm