ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 3: Chuyện Ông Nội Kể
Hà Minh Quân tìm thấy chiếc lông vào lúc Thân đang lúi húi rửa tay ở bể nước sau nhà. Cậu cháu ngoại mười sáu tuổi đứng ở cửa gian thờ, tay cầm chiếc…
Nội dung chương
Hà Minh Quân tìm thấy chiếc lông vào lúc Thân đang lúi húi rửa tay ở bể nước sau nhà.
Cậu cháu ngoại mười sáu tuổi đứng ở cửa gian thờ, tay cầm chiếc khăn đã mở ra một nửa, mặt vừa tò mò vừa hơi sợ. Chiếc lông đen nằm trong lòng khăn, dài và cứng, ánh lên dưới ánh đèn vàng của gian giữa như một mảnh sắt được mài mỏng.
- Ông ngoại, cái này là cái gì thế ạ? Quân hỏi. - Cháu thấy trong ngăn kéo bàn thờ. Nó không giống lông chim cháu học ở trường. Cháu cầm thử, nó cứa vào tay cháu, may chưa chảy máu.
Thân lau tay vào áo, bước nhanh tới, lấy lại chiếc khăn từ tay cháu. Ông gói chiếc lông lại cẩn thận hơn, đặt nó trở vào ngăn kéo, rồi mới quay lại nhìn Quân. Cậu bé cao gần bằng ông, tóc còn ướt sau khi tắm, mắt sáng và đầy những câu hỏi mà người lớn trong nhà cả ngày nay đều tránh né.
- Ngồi xuống hiên, ông nói. - Ông kể cho mà nghe. Nhưng nghe rồi thì để trong bụng, đừng mang ra lớp kể như chuyện ma cháu đọc trên mạng.
Quân gật đầu, theo ông ra hiên. Trời tối ngày 3 tháng 4 ở thôn Yên Sơn mát và yên. Đèn đường thưa thớt dọc ngõ, tiếng trâu thở trong chuồng của nhà bên vọng sang đều đều. Sen đang soạn bài trong nhà, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn ra hiên qua cửa sổ, nhưng cô không ngăn cha kể. Có lẽ cô cũng hiểu, chuyện đã tới mức này, giấu Quân mãi cũng không được, mà một đứa trẻ mười sáu tuổi sống dưới chân Ngọc Hoa thì sớm muộn cũng phải biết núi này từng giữ những chuyện gì.
Thân rót chén nước chè đã nguội, uống một ngụm, rồi bắt đầu kể bằng giọng chậm rãi của người đã kể câu chuyện này rất ít lần trong đời.
- Chuyện này ông nghe ông nội ông kể, Quân ạ. Ông nội ông lại nghe từ cụ tổ của nhà mình. Trong dã sử Lĩnh Nam Chích Quái, và trong bộ sách chép tay giữ ở đền Thượng trên đỉnh núi, tên là Tản Viên tạp lục, có chép về một con dị điểu sống trên chóp Ngọc Hoa từ rất lâu rồi. Sách gọi nó là Kim Xí. Kim là vàng, xí là cánh. Nhưng đừng tưởng cánh nó vàng. Lông nó đen, đen và cứng như thép. Dân chân núi mình thì gọi nó là Đại Bàng Tinh, còn người già kiêng miệng thì chỉ nói là Ông Lớn Trên Chóp, không gọi thẳng tên.
Quân ngồi im, hai tay ôm đầu gối.
- Sách chép nó sống hàng ngàn năm, ông kể tiếp. - Nó không ở trên núi quanh năm cho người ta thấy. Nó ngủ trong một cái hang đá trên vách cao của Ngọc Hoa, ngủ hàng chục năm liền, núi yên thì nó không dậy. Chỉ khi nào có chuyện động tới chóp núi, nó mới mở mắt. Mỗi lần nó thức, nó cắp trâu bò và cả người đi rừng, mang lên hang của nó ăn thịt. Xương người qua các đời nó ăn, chất lại trong hang. Đó là sách chép. Còn chiếc lông này...
Ông dừng lại, nhìn về phía ngăn kéo trong gian thờ, dù từ hiên không nhìn thấy.
- Chiếc lông này là của nó, hay ít nhất là của một con chim có lông thép như sách tả. Sáng nay ông rút nó từ thân cây trên sườn Ngọc Hoa, ngay dưới một cái xác hoẵng bị treo lên chạc cao. Nó cắm sâu vào gỗ như một cây đinh sắt. Tay ông bị nó cứa đứt đây này.
Ông đưa bàn tay có vết cứa đã se miệng cho cháu xem. Quân cúi sát lại, rồi ngẩng lên, mặt nghiêm hẳn.
- Thế ngày xưa nhà mình có ai gặp nó thật không, ông?
Câu hỏi ấy làm Thân im lặng một lúc lâu. Ông nhìn ra ngõ tối, nơi bóng cây trong vườn nhà hàng xóm lay động rất nhẹ.
- Có. Ông nói cuối cùng. - Cha của ông, tức là cụ của cháu, tên là Hà Văn Cừ. Cụ là thợ săn giữ nỏ đời trước của họ Hà. Cụ nhỏ người, ít nói, nhưng tay bắn nỏ thì cả vùng này không ai qua được. Cụ có một con dao găm chuôi gỗ, trên chuôi khắc đúng một chữ Cừ, là tên của cụ. Con dao ấy cụ không bao giờ rời người. Đi rừng mang theo, đi ăn cỗ cũng giắt ở thắt lưng, ngủ thì để ở đầu giường. Ông vẫn nhớ cái chuôi gỗ ấy bóng lên vì tay cụ cầm hàng ngày.
- Rồi sao nữa ạ?
- Chuyện của cụ để hôm khác ông kể kỹ. Thân nói, và Quân đủ khôn để không gặng hỏi khi thấy mắt ông ngoại mình nhìn xa như thế. - Cháu chỉ cần nhớ thế này: trên núi này, nhà mình đã từng mất người vì con điểu trong sách. Không phải chuyện bịa để dọa trẻ con không được lên rừng. Là chuyện có người thật, dao thật, và một ngôi mộ không có xác ở nghĩa địa họ Hà.
Quân gật đầu chậm chạp. Cậu không hỏi thêm về cụ Cừ nữa, chỉ hỏi một câu rất thực tế, đúng kiểu của một đứa trẻ lớn lên trong thời có điện thoại và camera.
- Thế sao không ai chụp được ảnh nó hả ông?
- Vì nó bay trên cao, ra vào lúc hoàng hôn và ban đêm, và vì người gặp nó ở gần thì ít ai còn về mà kể. Thân đáp. - Nhưng lần này khác. Lần này có xác treo trên cây, có vết móng đo được, có cả chiếc lông trong ngăn kéo kia. Kiểm lâm họ sẽ lắp máy quay trên núi. Sớm muộn gì cũng có bằng chứng rõ hơn lời kể của ông cháu mình.
Hai ông cháu ngồi thêm một lúc trong im lặng. Sen từ trong nhà gọi Quân vào học bài, giọng cô cố giữ bình thường, nhưng Thân nghe ra trong đó có cả sự sốt ruột của một người mẹ không muốn con mình dính vào chuyện núi rừng quá sớm.
Quân đứng dậy, trước khi vào nhà còn quay lại.
- Ông ngoại này, mai ông có lên núi nữa không?
- Có thể. Thân nói. - Nhưng không phải một mình. Và cháu nhớ lời ông: từ nay không ai trong nhà này lên rừng một mình, nhất là lúc trời sắp tối. Nghe chưa?
- Nghe rồi ạ.
Cậu vào nhà. Thân còn ngồi lại trên hiên một mình, chén chè đã nguội ngắt.
Chưa đầy một giờ sau, Bùi Văn Thịnh sang gõ cửa, nói ở sân nhà ông đang có mấy hộ dân tụ lại, muốn bàn chuyện trâu bò và chuyện trên núi. Thịnh mời Thân qua, vì lời của ông trong thôn xưa nay vẫn có trọng lượng, nhất là những việc dính tới rừng.
Sân nhà trưởng thôn tối ấy đông hơn thường lệ. Đàn ông có, đàn bà có, mấy người chủ trâu ngồi ở hàng ghế đầu, mặt ai cũng nặng trĩu. Thịnh đứng ra nói trước: đội kiểm lâm đã kiểm tra hiện trường trên sườn Ngọc Hoa, trạm trưởng Khoa đề nghị dân tạm thời không lên rừng một mình, không thả trâu bò lên sườn núi vào ban đêm, và dồn gia súc về chuồng gần nhà trước khi trời tối. Thông báo chính thức của xã sẽ xuống sau, nhưng thôn không chờ được, phải tự giữ lấy đàn trâu trước.
Tiếng bàn tán nổi lên ngay.
- Trâu thả trên sườn mới lớn được, nhốt hết về chuồng thì lấy gì cho nó ăn? Một người đàn ông trung niên nói to. - Đàn trâu nhà tôi sáu con, chuồng ở nhà chỉ chứa được ba con, còn ba con nữa để ở đâu?
- Đường lên đền mà phong tỏa thì khách đâu nữa, nhà tôi bán nước ở chân đường lên đền sống bằng cái gì? Một người đàn bà khác chen vào.
- Hay là báo xã xin người về xua thú đi, để thế này ai dám cho con đi học qua đường rừng? Một người nữa nói.
Thân ngồi ở góc sân, nghe hết, không chen vào cho tới khi Thịnh nhìn sang ông và nói:
- Ông Thân, ông là người đi cùng kiểm lâm sáng nay. Ông nói cho bà con một câu thật lòng, trên núi bây giờ là cái gì?
Cả sân im lại.
Thân đứng dậy chậm rãi. Ông không kể chuyện Kim Xí ở đây, không nhắc tới sách đền hay chiếc lông thép, vì ông biết những lời ấy thốt ra tối nay, giữa một sân đầy người đang lo mất sinh kế, sẽ chỉ làm nỗi sợ phình to thành tin đồn không kiểm soát được. Ông chỉ nói điều cần nói nhất, bằng giọng rõ và ngắn.
- Tôi chỉ nói một câu thôi. Ông nhìn quanh sân. - Trước mắt, không ai được lên rừng một mình, và trâu bò phải dồn về chuồng gần nhà trước khi trời tối. Ai làm khác, xảy ra chuyện thì đừng trách thôn không nhắc. Còn trên núi là cái gì, để kiểm lâm họ kết luận. Nhưng tôi đi rừng cả đời, tôi khuyên bà con nghe theo lời nhắc này như nghe lời người nhà.
Không ai cười, không ai cãi lại ngay. Thịnh gật đầu, ghi lời ấy thành quyết định của cuộc họp nhỏ tối ấy: các hộ tự xoay xở chuồng trại trong hai ngày tới, trai tráng trong thôn chia nhau trực ở đầu đường mòn vào những buổi chiều tối, và không hộ nào cho trẻ con theo trâu lên sườn núi nữa.
Cuộc họp tan muộn. Người dân ra về thành từng nhóm, đèn pin loang loáng trong ngõ, tiếng nói chuyện nhỏ dần. Thân đi bộ về nhà một mình, qua những chuồng trâu đã được chằng thêm dây và đóng thêm cọc sau lời nhắc tối nay.
Đêm ấy, thôn Yên Sơn ngủ không yên. Thân nằm trong buồng, mắt mở trong bóng tối, nghe tiếng chó của các nhà thỉnh thoảng lại sủa vu vơ rồi im. Sen và Quân đã ngủ ở buồng bên. Chiếc rương dưới bàn thờ im lặng như một khối gỗ vô tri.
Rồi, giữa đêm không gió, từ trên đền Thượng vọng xuống một tiếng chuông.
Nó ngân dài, trầm và rõ, lăn qua các mái nhà của thôn Yên Sơn như một vòng sóng. Không phải tiếng chuông báo giờ, vì đền trên núi không đánh chuông vào giờ ấy. Không phải gió, vì cây trong sân nhà Thân không hề lay một chiếc lá. Tiếng chuông ngân một lần, kéo dài rất lâu mới tắt, để lại một khoảng im lặng còn nặng hơn cả lúc nó vang lên.
Thân ngồi bật dậy trong bóng tối.
Ở buồng bên, ông nghe tiếng Sen trở mình và tiếng Quân hỏi ngái ngủ một câu gì đó không rõ. Ngoài ngõ, vài nhà mở cửa, có tiếng người gọi nhau khẽ khẽ. Cả thôn Yên Sơn, trong cùng một khoảnh khắc, đều ngẩng lên nhìn về phía đỉnh núi chìm trong sương, nơi tiếng chuông vừa đi qua như một lời gọi không ai dám đáp.