ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 6: Đàn Trâu Của Thôn Yên Sơn
Đêm ngày 4 tháng 4, thôn Yên Sơn ngủ sớm hơn thường lệ. Lệnh của Thân từ tối hôm trước đã được Thịnh truyền đi khắp các ngõ: không ai lên rừng một mình,…
Nội dung chương
Đêm ngày 4 tháng 4, thôn Yên Sơn ngủ sớm hơn thường lệ.
Lệnh của Thân từ tối hôm trước đã được Thịnh truyền đi khắp các ngõ: không ai lên rừng một mình, trâu bò phải dồn về chuồng gần nhà trước khi trời tối. Đàn trâu của Thịnh vốn thả trên sườn núi quanh năm, chiều nay cũng được lùa về hết. Chuồng sau nhà Thịnh chật thêm hai con của hộ bên gửi nhờ, mái lá cọ được chằng thêm dây thép, cửa chuồng gài hai lần then. Bùi Văn Lực, thanh niên chăn trâu thuê cho nhà Thịnh đã ba năm, tối nay trải chiếu nằm ngay trong gian bếp nhà Thịnh, cách chuồng trâu một khoảng sân, để hễ có động là dậy được ngay.
Chiều tối, trước khi về nhà, Thân đã ghé qua nhà Thịnh một vòng. Ông đi quanh chuồng, sờ thử từng mối dây chằng, nhìn lên mái lá rồi nhìn ra khoảng trời phía đỉnh Ngọc Hoa đang tối dần trong sương.
- Then cửa gài hai lần là được rồi. Ông nói với Thịnh. - Đêm nay nếu nghe tiếng động lạ trên mái, đừng có xách đèn chạy ra một mình. Đánh thức cả nhà dậy trước đã.
- Ông cứ yên tâm. Thịnh đáp. - Thằng Lực nó nằm ngay bếp, tai nó thính như tai chó. Có con gì động vào đàn trâu này là nó biết trước cả tôi.
Thân gật đầu, nhưng trên đường về nhà, ông vẫn ngoái lại nhìn chuồng trâu nhà Thịnh một lần nữa. Chuồng nằm ở cuối thôn, sát lối mòn lên núi, là nhà gần rừng nhất trong cả xóm. Ông chỉ thấy ngực mình nặng như có đá đè, một cảm giác ông đã quen từ những đêm năm 1983.
Nửa đêm, chó cả thôn Yên Sơn sủa điên một lượt rồi im bặt cùng lúc.
Thân giật mình tỉnh dậy ngay từ hồi sủa đầu tiên. Ông nằm im trong bóng tối, lắng nghe. Tiếng chó sủa dồn dập, hoảng loạn, hướng hết về phía cuối thôn, rồi đứt quãng như bị ai bóp cổ, rồi tắt hẳn. Sau đó là một khoảng lặng dày đến mức ông nghe rõ tiếng kim đồng hồ treo tường trong gian ngoài và tiếng Sen trở mình ở buồng bên.
Ông ngồi dậy, khoác áo, bước ra hiên. Trời không trăng, sương phủ kín ngõ, đứng ở hiên chỉ nhìn thấy lờ mờ hàng rào nhà mình. Đỉnh Ngọc Hoa mất hút trong một mảng đen lớn hơn cả bóng đêm. Không có tiếng gió. Không có tiếng côn trùng. Cả thôn Yên Sơn như bị úp trong một cái chuông thủy tinh, và ở đâu đó phía trên cái chuông ấy, có một thứ rất lớn vừa đi qua.
Sen mở cửa buồng, đứng sau lưng ông.
- Bố nghe thấy không? Cô hỏi nhỏ. - Chó sủa rồi im hết cả. Con Mực nhà mình cũng chui gầm giường rồi.
- Nghe thấy. Thân nói. - Vào nhà đi. Đóng cửa lại. Chưa có ai gọi thì đừng ra ngõ.
Ông đứng ở hiên thêm một lúc lâu nữa. Không có tiếng người gọi nhau trong thôn. Không có tiếng mái nhà nào đổ. Chỉ có khoảng lặng kéo dài chừng một nén hương rồi tiếng chó mới lục tục sủa lại, thưa thớt và rụt rè, như chúng cũng không dám chắc thứ vừa đi qua đã đi hẳn chưa.
Thân không ngủ lại được. Ông ngồi ở bậc cửa tới gần sáng, mắt nhìn về phía cuối thôn tối om. Năm 1983, trước đêm cha ông không trở về, rừng quanh Ngọc Hoa cũng từng im lặng đúng kiểu này, một sự im lặng không phải của bình yên mà của mọi con vật biết cúi đầu khi có thứ lớn hơn đi ngang qua.
Trời vừa hửng sáng, tiếng kêu thất thanh từ cuối thôn vọng tới.
Thân cầm gậy đi ngay. Tới nơi, sân nhà Thịnh đã đông người. Chuồng trâu bị xé toạc mái: cả một mảng lá cọ và tre nứa bị giật tung lên, vứt vắt vẻo trên cành cây xoài sau nhà, cao hơn đầu người mấy mét. Cửa chuồng vẫn gài nguyên hai lần then. Thứ lấy con trâu đi không vào bằng cửa. Nó xuống từ trên mái.
Trong chuồng, mười hai con trâu còn lại dồn hết vào góc trong cùng, run lẩy bẩy, mắt trắng dã, con nào cũng ướt đẫm mồ hôi dù trời sáng sớm còn lạnh. Một con trâu đực lớn, con đực đầu đàn nặng nhất của Thịnh, đã biến mất. Trên nền chuồng chỉ còn vệt cào dài trên đất ẩm và mấy giọt máu đen nhỏ thẳng xuống từ phía trên, thành một đường đứt quãng ra tới mép sân rồi mất hẳn, như thứ mang con trâu đi đã rời mặt đất từ đó.
Thịnh đứng giữa sân, mặt trắng bệch, tay cầm cây rựa mà không biết mình cầm để làm gì.
- Nó vào lúc nào tôi không hay một tí nào, ông Thân ơi. Thịnh nói, giọng lạc đi. - Chó sủa một hồi rồi im, tôi tưởng trộm lẻn vào vườn nhà ai nên nằm yên nghe. Tới lúc nghe mái chuồng răng rắc thì nó đã đi rồi. Cả đàn trâu còn nguyên, chỉ mất đúng con đực đầu đàn.
- Người đâu? Thân hỏi ngay. - Thằng Lực đâu?
- Nó đây. Nó chạy lên sườn núi từ lúc trời chưa sáng rõ.
Lực ngồi bệt ở góc sân, lưng dựa vào thân cau, mặt cắt không còn giọt máu. Tai phải của anh rỉ máu thành một vệt khô từ vành tai xuống cổ. Sen tới sau, mang theo khăn sạch, và chính cô là người đầu tiên nhận ra vệt máu ấy khi cúi xuống đưa khăn cho anh.
- Tai nó chảy máu kìa bố. Sen nói.
Thân quỳ xuống trước mặt Lực. Anh chăn trâu hai mươi sáu tuổi, người gầy, tay chân nhanh nhẹn, đã ngủ lán trên núi ba năm không biết sợ thú rừng là gì. Lúc này hai tay anh vẫn run, cầm chiếc khăn mà không đưa lên được tới tai.
- Đêm qua tôi không ngủ ở bếp nhà bác Thịnh nữa, ông Thân ạ. Lực nói, từng chữ đứt quãng. - Nửa đêm tôi nghe đàn trâu trong chuồng dậm chân, tôi lo quá nên xách đèn pin chạy lên lán trên sườn, định ngó xem trên núi có động gì không. Tôi vừa lên tới lán thì nghe tiếng đó.
- Tiếng gì? Thân hỏi, rất chậm.
- Tiếng rít. Lực nuốt khan. - Không phải tiếng còi, không phải tiếng gió. Nó rít từ trên trời xuống, xuyên qua cả mái lán, xuyên vào đầu tôi như có cây kim dài chọc thẳng vào tai. Tôi ôm đầu lăn xuống đất. Tai phải tôi từ lúc ấy điếc hẳn một bên, rồi rỉ máu ra. Khi tôi ngẩng lên được, tôi thấy một bóng đen to bằng cả mái nhà sà xuống phía chuồng trâu dưới thôn. Nó to lắm, ông ạ. Hai cánh nó che hết cả khoảng trời trên sân nhà bác Thịnh.
Mấy người dân đứng quanh xì xào. Có người nói anh hoảng quá hóa mê sảng. Có người bảo tai chảy máu là do anh ngã đập đầu vào cột lán. Thịnh xua tay bảo mọi người im, nhưng chính mặt Thịnh cũng đầy vẻ không tin.
Lực lắc đầu quầy quậy, nước mắt chảy ra vì đau và vì bị nghi ngờ cùng lúc.
- Tôi không nói nhảm. Anh nói, giọng cao lên. - Tôi nhìn thấy rõ. Lúc nó quắp con trâu bay lên, nó ngửa đầu kêu thêm một tiếng nữa. Dưới cổ nó, ngay chỗ cuống họng ấy, có một vệt trắng. Trắng như bụng cá. Cả thân nó đen sì, lông cứng tua tủa, chỉ có chỗ ấy là trắng, to bằng bàn tay tôi này.
Cả sân im lặng một thoáng, rồi tiếng xì xào lại nổi lên, lần này kèm theo những cái lắc đầu và vài tiếng cười khan không ác ý.
- Vệt trắng dưới cổ chim? Một ông già trong thôn nói. - Mày bị nó dọa cho mất vía rồi, Lực ạ. Chim dữ thì đen hết cả con, lấy đâu ra vệt trắng.
- Thôi, cho nó vào nhà nằm nghỉ đi. Thịnh nói. - Tai chảy máu thế kia, để nó nói nữa khéo ngất ra đây.
Riêng Thân không cười. Ông nhìn Lực rất lâu, nhìn vệt máu khô trên cổ anh, nhìn đôi tay còn run của anh, rồi ông đứng dậy, nói với Thịnh bằng giọng không cho ai bàn thêm.
- Lời thằng Lực nói, ghi nhớ lấy. Tai nó chảy máu là thật. Con trâu mất là thật. Còn chuyện vệt trắng, chưa ai được kết luận là nhảm hay không nhảm. Chưa ai trong thôn này nhìn con vật ấy ở cự ly gần như nó, trừ tôi từ bốn mươi hai năm trước.
Ông bảo dân thôn tỏa ra tìm theo hướng đường máu đứt quãng sau sân. Chưa đầy một giờ sau, người ta tìm thấy xác con trâu đực trên một chạc cây cổ thụ sau núi. Con trâu nặng mấy tạ bị treo trên chạc cao, bụng xé toạc, ruột gan móc sạch, đúng hệt mười hai cái xác trên sườn Ngọc Hoa hôm mồng 3. Thân đứng dưới gốc cây nhìn lên rất lâu. Không cần leo lên, ông cũng biết trên thân cây ấy sẽ có bốn vết móng song song cách nhau mười hai phân.
Ông cho người chụp ảnh, báo ngay cho Khoa ở trạm kiểm lâm. Khoa dặn thôn giữ nguyên hiện trường trên cây, không ai được trèo lên lấy xác trâu xuống trước khi đội của trạm tới đo đạc.
Về tới nhà, trời đã gần trưa. Sen dọn cơm nhưng Thân không ăn. Ông vào gian thờ, đóng cửa lại, làm việc ông đã tránh từ tối mồng 3.
Lần này ông lấy hẳn ống đựng tên ra khỏi rương.
Ống tên bằng tre già, bọc vải dầu, nút bằng sáp ong đã ngả màu. Thân đặt ống lên bàn thờ, thắp một nén hương cho cha, rồi mới mở nút sáp. Ông đổ ba mũi tên đồng ba cạnh ra lòng bàn tay, từng mũi một, chậm rãi như đếm tiền dành dụm của cả một đời người.
Mũi Cả. Mũi Hai. Mũi Ba.
Ba mũi tên đồng xanh xỉn vì thời gian, ba cạnh còn sắc, thân tên bằng gỗ cứng đã lên nước đen bóng. Ông đặt chúng nằm song song trên mặt bàn thờ, dưới làn khói hương, và đếm lại lần nữa bằng đầu ngón tay, dù mắt ông đã thấy rõ không thiếu mũi nào và cũng không thừa mũi nào.
Bảy mũi nhặt ở suối Đá Chông năm 1897. Mất hai mũi năm 1911. Mất một mũi năm 1954. Mất một mũi năm 1983, theo cha ông xuống vực. Còn lại đúng ba mũi này, nằm đây, trong tay ông, là toàn bộ những gì họ Hà còn giữ được sau bốn đời người.
Ông nghĩ tới lời Lực: một vệt trắng to bằng bàn tay dưới cuống họng, giữa một thân hình đen sì lông thép mà đạn và tên thường không xuyên nổi. Ông chưa tin hẳn, vì một người đang choáng vì tiếng rít có thể nhìn lầm. Nhưng ông cũng không gạt đi. Ông cất lời Lực vào một ngăn riêng trong đầu, cùng với tấm bia hóa đá ở đền Thượng và vết sẹo trên cẳng tay mình, chờ một ngày có bằng chứng khác tới khớp vào.
Thân đặt ống tên trở lại rương, nói với ảnh cha trên bàn thờ: - Ba mũi. Đời ông giữ được ba mũi tới tay con.
Ông khép nắp rương, cài then, và đứng dậy. Ngoài sân, nắng trưa đã lên cao, nhưng từ phía đỉnh Ngọc Hoa, sương vẫn chưa tan hết, và trong đầu Thân, một ý nghĩ vừa thành hình, lạnh và không thể tránh: con điểu đã xuống tới chuồng trâu trong thôn rồi. Những đêm sắp tới, nó sẽ còn xuống thấp hơn nữa.