ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 5: Vết Sẹo Cũ

Đường lên đền Thượng sáng ngày 4 tháng 4 vắng hơn mọi ngày thường. Hà Văn Thân dẫn Hà Minh Quân đi theo những bậc đá quen thuộc, qua những đoạn đường mà…

Nội dung chương

Đường lên đền Thượng sáng ngày 4 tháng 4 vắng hơn mọi ngày thường.

Hà Văn Thân dẫn Hà Minh Quân đi theo những bậc đá quen thuộc, qua những đoạn đường mà ngày thường vào đầu tháng, người đi lễ đã nối nhau thành hàng. Hôm nay chỉ có hai ông cháu và tiếng gió thổi qua rừng thông trên cao. Lệnh cấm lên rừng khu vực đỉnh của trạm kiểm lâm đã làm con đường lên đền thưa người hẳn, dù đền không nằm trong vùng cấm tuyệt đối. Dân quanh chân núi, khi đã nghe tin có thú dữ chưa xác định quanh Ngọc Hoa, tự biết tránh đường lên đỉnh mà không cần ai nhắc lần thứ hai.

Quân đi trước ông một đoạn, ba lô trên vai chỉ có bình nước và cuốn sổ ghi tọa độ camera hôm trước. Cậu đi nhanh, thỉnh thoảng dừng lại chờ ông ngoại, và không giấu được vẻ háo hức của một đứa trẻ lần đầu được theo ông lên đền vào một ngày thường vắng lặng như thế.

- Bà Mùi ở đền có khó tính không ông? Cậu hỏi khi hai ông cháu dừng nghỉ ở một chiếu nghỉ lưng chừng đường.

- Bà ấy không khó tính. Thân nói. - Bà ấy chỉ nói ít và nhớ lâu. Người trông đền mấy chục năm, chuyện gì trong vùng này bà ấy cũng ghi vào sổ. Cháu lên đó thì lễ phép, hỏi gì bà ấy trả lời nấy, đừng có nghịch vào đồ của đền.

Tới cổng đền, mùi hương trầm và mùi lá thông khô đón hai ông cháu ngay từ bậc thềm cuối. Đền Thượng nằm trên đỉnh Ngọc Hoa, giữa gió và sương, nhỏ hơn nhiều người dưới xuôi tưởng, nhưng sạch và yên đến mức tiếng bước chân trên sân đá cũng nghe rõ.

Đặng Thị Mùi đang quét sân. Bà năm nay bảy mươi tám tuổi, người nhỏ, lưng hơi còng, tóc búi gọn sau gáy, mắt còn tinh một cách lạ so với tuổi. Thấy Thân, bà dừng chổi, nhìn ông từ đầu đến chân như kiểm tra xem ông có còn nguyên vẹn sau chuyến đi rừng sáng qua không.

- Ông Thân lên đấy à. Bà nói. - Tôi nghe dưới thôn nói ông đi cùng kiểm lâm lên sườn núi hôm qua. Lại có cả thằng Quân nữa. Vào thắp hương đi đã, rồi ra đây tôi hỏi chuyện.

Thân dẫn Quân vào đền thắp hương theo đúng lệ. Ông đứng trước ban thờ rất lâu, không khấn thành tiếng. Trong đầu ông chỉ có một câu hỏi duy nhất mà ông đã mang theo từ lúc còn ở chân núi: lần này có phải là nó thức dậy thật không, và nếu phải, thì lệ cũ của đền nói gì về những ngày sắp tới.

Ra sân, bà Mùi đã pha sẵn ấm trà ở chiếc bàn đá dưới gốc thông già. Bà rót trà cho Thân, cho Quân một chén nhỏ, rồi mới ngồi xuống đối diện với ông.

- Ông lên hỏi tôi về con điểu, phải không? Bà hỏi thẳng.

Thân gật đầu. Ông lấy chiếc khăn gói lông từ túi áo ngực ra, mở ra đặt lên bàn đá. Chiếc lông đen cứng nằm im trong nắng trưa trên đỉnh núi, ánh thép lạnh không hề mềm đi vì ánh sáng.

Bà Mùi nhìn chiếc lông rất lâu. Bà không chạm vào nó. Bà chỉ nhìn, rồi thở ra một hơi dài.

- Lông thép. Bà nói. - Sách đền tả đúng như thế này. Lông cứng như dao, cắm được vào gỗ, cứa được vào tay người. Tôi trông đền ngần ấy năm, đây là lần đầu tiên tôi thấy nó bằng mắt, chứ không phải bằng chữ trong sách.

- Bà cho tôi hỏi lệ của nó. Thân nói. - Rành rọt như trong sách chép, không thêm không bớt.

Bà Mùi gật đầu, đứng dậy vào trong lấy ra một cuốn sổ bọc vải đã cũ, mép giấy ố vàng. Đó là sổ đền, nơi người trông đền qua các đời ghi lại những việc lớn xảy ra quanh đỉnh núi. Bà lật tới một trang gần cuối, nơi nét chữ của chính bà còn mới.

- Nghe đây, bà nói, giọng đều đều như người đọc sổ, không dọa dẫm một chữ nào. - Sách chép: điểu ngủ yên trong hang sâu hàng chục năm khi núi yên. Nó không đói, không già đi theo kiểu thú thường. Chỉ khi sét đầu mùa đánh trúng chóp Ngọc Hoa, nó mới mở mắt. Sét ấy phải là sét đầu mùa sấm, và phải trúng đúng chóp núi này, không phải sấm ở vùng khác.

Bà ngừng lại, đưa tay chỉ ra phía sau đền.

- Đêm ba mươi mốt tháng ba vừa rồi, đúng đêm sấm đầu mùa năm nay, một tia sét đã đánh trúng đỉnh này. Nó làm cháy xém một cây thông già ngay sau đền. Tôi nghe tiếng nổ như trời sập, chạy ra thì thấy cây thông bốc khói, vỏ cháy đen một vệt từ ngọn xuống gốc. Sáng hôm sau tôi đã ghi vào sổ đền đây này. Ông ra mà xem cây thông, vết cháy còn nguyên.

Thân đứng dậy, theo bà ra sau đền. Quân cũng đi theo, im lặng.

Cây thông già đứng ở mép sân sau, cao hơn hẳn những cây quanh đó. Một vệt cháy đen chạy dọc thân cây từ trên xuống, vỏ nứt ra thành từng mảng, cành phía trên trụi lá và khô giòn. Mùi khét của gỗ cháy, sau mấy ngày nắng, vẫn còn phảng phất khi đứng gần. Thân đưa tay chạm vào vệt cháy. Than đen bám vào đầu ngón tay ông, khô và xốp.

Trong đầu ông, những mảnh rời rạc của mấy ngày qua bắt đầu khớp lại với nhau thành một thứ tự không thể chối cãi: sét đầu mùa đêm 31 tháng 3, hai anh em họ Trần mất tích cuối tháng 3, mười hai xác thú treo trên chạc cây ngày 3 tháng 4, chiếc lông thép, vết móng mười hai phân, bóng đen hơn hai chục mét trên màn hình trạm. Mỗi thứ một mình thì còn có thể là trùng hợp. Xếp lại với nhau theo đúng lệ trong sách đền, chúng chỉ còn là một câu chuyện duy nhất.

- Còn một việc nữa ông cần biết, bà Mùi nói khi hai ông cháu quay lại bàn đá. Bà dẫn Thân tới một tấm bia đá cũ dựng ở góc sân đền, rêu phủ gần hết mặt bia, chữ khắc đã mòn nhiều chỗ. - Bia này dựng từ đời trước, kể chuyện một con điểu khác, nhỏ hơn con trên Ngọc Hoa này. Đời trước, ở phía Tản Viên, một con điểu từng bị sét đánh rơi khi đang bay, chết ngay trên núi. Khi người ta tìm thấy, nó đã hóa thành đá đen, cứng và nặng, giữ nguyên hình dáng lúc rơi. Dân khiêng về không nổi, nên để lại trên núi. Bia này dựng để ghi lại chuyện ấy cho người sau biết: loài điểu này khi chết không thối rữa như thú thường. Nó hóa đá.

Quân đứng bên cạnh khẽ hỏi:

- Thật ạ, bà? Chim chết lại hóa đá ạ?

- Sách và bia chép thế. Bà Mùi đáp, vẫn bằng giọng của người ghi sổ. - Bà không thêm một chữ nào. Tin hay không là việc của người nghe. Nhưng ông ngoại cháu thì nên nghe cho kỹ, vì nhà họ Hà mình không phải nhà ngoài cuộc trong chuyện con điểu này.

Câu nói cuối của bà làm Thân quay lại nhìn bà.

Đúng lúc ấy, ông cúi xuống để nhặt chiếc khăn gói lông vừa trượt khỏi mép bàn vì gió. Tay áo bên trái của ông, vốn xắn lên từ lúc leo núi, tuột xuống rồi lại bị ông vô thức kéo lên khi với tay. Vệt sẹo dài trên cẳng tay trái của ông lộ ra trọn vẹn dưới nắng trưa: một đường sẹo trắng, dài, hơi lồi, chạy dọc từ gần cổ tay lên tới khuỷu, là dấu tích đã theo ông suốt bốn mươi hai năm.

Bà Mùi nhìn vết sẹo ấy. Bà nhìn rất lâu, lâu hơn cả lúc bà nhìn chiếc lông thép.

Rồi bà nói, chậm rãi và rõ ràng, như đọc một dòng khác trong cuốn sổ của đời người mà bà đã chứng kiến một phần.

- Tôi còn nhớ vết sẹo ấy, ông Thân ạ. Bà nói. - Năm 1983, ông theo cha ông lên núi này, về được với cánh tay rách máu như thế. Năm ấy nó cũng thức vào đầu mùa sấm, như năm nay. Ông Cừ lên núi này rồi không xuống nữa.

Gió trên đỉnh Ngọc Hoa thổi qua sân đền, làm những lá thông khô chạy lạo xạo trên mặt đá. Chuông đền treo ở góc sân rung rất nhẹ, không thành tiếng.

Thân đứng lặng rất lâu trước tấm bia đá cũ, một tay vẫn giữ chiếc khăn gói lông thép, tay kia buông thõng với vết sẹo dài lộ ra trong nắng. Ông không nói gì thêm với bà Mùi trong khoảnh khắc ấy, vì mọi điều cần xác nhận, ông đã nghe đủ: lệ thức giấc, cây thông cháy, bia đá kể chuyện hóa đá, và một người còn sống trên đời này ngoài ông ra vẫn nhớ rõ mùa sấm năm 1983 đã lấy đi cha ông như thế nào.

Quân đứng bên cạnh ông ngoại, không hỏi thêm câu nào. Cậu nhìn vết sẹo trên tay ông, rồi nhìn tấm bia rêu phủ, rồi nhìn về phía vách đá phía đông của đỉnh núi, nơi sương đang bắt đầu tụ lại dù trời mới quá trưa.

- Về thôi, Quân. Cuối cùng Thân nói, giọng khàn đi. Ông gói lại chiếc lông cẩn thận, cài vào túi áo ngực, cúi đầu chào bà Mùi. - Cảm ơn bà. Những gì bà nói hôm nay, tôi ghi hết vào bụng rồi.

- Ông ghi vào bụng thì tốt. Bà Mùi đáp, tiễn hai ông cháu ra cổng đền. - Nhưng ông Thân này, ghi vào bụng rồi thì phải tính sớm. Lần trước, người tính chậm đã không xuống được núi nữa đâu.

Thân gật đầu. Ông bước xuống những bậc đá đầu tiên của đường về, chậm hơn lúc lên rất nhiều, không phải vì chân mỏi, mà vì trong đầu ông, một mùa sấm cũ và một mùa sấm mới đã chồng lên nhau thành cùng một con đường duy nhất, con đường mà ông biết mình không còn tránh được bao lâu nữa.

Chương khác

Xem thêm