ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 7: Ống Nhòm Của Quân
Sáng ngày 5 tháng 4, đội kiểm lâm quay lại sườn Ngọc Hoa để thay pin và lắp thêm camera bẫy. Sau vụ trâu nhà Thịnh bị cắp ngay trong chuồng, Khoa quyết…
Nội dung chương
Sáng ngày 5 tháng 4, đội kiểm lâm quay lại sườn Ngọc Hoa để thay pin và lắp thêm camera bẫy.
Sau vụ trâu nhà Thịnh bị cắp ngay trong chuồng, Khoa quyết định mở rộng vòng camera xuống sát bìa thôn và dọc lối mòn lên núi, vì con thú chưa xác định kia rõ ràng không còn chỉ hoạt động quanh đỉnh nữa. Thân dẫn đường như hai ngày trước. Quân vác ba lô pin và dây buộc, đi giữa đội, thỉnh thoảng dừng lại ghi tọa độ vào cuốn sổ nhỏ theo đúng cách Khoa đã dạy hôm mồng 4.
- Cái nghề này hơn nửa là đi bộ và ghi chép, cháu ạ. Một kiểm lâm viên nói với Quân khi cả đội dừng nghỉ ở lưng chừng sườn. - Nhìn thấy thú dữ thì ít, nhìn thấy dấu của nó thì nhiều.
- Dấu cũng là bằng chứng mà chú. Quân đáp, mắt vẫn không rời cuốn sổ. - Ông ngoại cháu bảo, người đi rừng giỏi là người đọc được dấu trước khi gặp con thú.
Thân nghe cháu nói, không khen cũng không chê. Ông chỉ để ý một điều: từ sáng tới giờ, chim rừng trên sườn Ngọc Hoa hót rất thưa. Mấy bầy khướu vẫn chuyền cành ở phía xa, nhưng gần các lối mòn, tiếng chim cứ ngắt quãng bất thường, như chúng cũng đang nghe ngóng một thứ gì đó cùng với người.
Đội lắp thêm bốn chiếc camera: một ở ngã ba lối mòn phía sau núi, nơi xác con trâu nhà Thịnh còn treo trên chạc cây chưa được đưa xuống; một ở bìa bãi thả gia súc cũ; hai chiếc còn lại đặt cao hơn, hướng ống kính lên khoảng trời phía thung lũng dưới đỉnh, vì Khoa muốn thử chụp lại cái bóng đen khổng lồ trong khung hình mờ hôm trước bằng góc nhìn rộng hơn.
- Nếu nó bay qua thung vào lúc chạng vạng, hai chiếc này có cơ may chụp được rõ hơn. Khoa nói với Thân. - Hồng ngoại chỉ ăn thua khi nó tới gần. Còn ban ngày, cháu Quân cầm ống nhòm theo dõi khoảng trời phía đông, hễ thấy động thì báo ngay qua bộ đàm.
Quân được giao chiếc ống nhòm của trạm, thứ đồ cậu đã liếc nhìn thèm thuồng từ hôm đầu theo đội. Thân dặn cháu ngồi yên ở mỏm đá cạnh điểm lắp camera cuối cùng, không được rời vị trí, không được tự ý đuổi theo bất cứ thứ gì mình nhìn thấy.
- Ống nhòm chỉ để nhìn. Ông nói. - Không phải để đi theo. Nhớ chưa?
- Nhớ rồi ạ. Quân đáp, hai tay ôm ống nhòm như ôm một vật báu.
Chiều xuống dần trên sườn Ngọc Hoa. Nắng cuối ngày nhuộm vàng một dải rừng phía tây, còn thung lũng phía dưới đỉnh đã bắt đầu ngả sang màu chàm, sương từ các khe suối bốc lên từng vạt mỏng. Đội thu dọn đồ, chuẩn bị rút xuống trước khi trời tối hẳn, theo đúng lệnh không ở lại khu vực đỉnh sau hoàng hôn mà Khoa đã đặt ra từ hôm mồng 4.
Đúng lúc ấy, tiếng Quân kêu lên từ mỏm đá.
- Ông ơi! Có cái gì ở dưới thung kia!
Cậu không kịp nói hết câu thứ hai. Thân bước nhanh tới, giật nhẹ ống nhòm trên tay cháu, đưa lên mắt nhìn theo hướng tay cậu chỉ. Nhưng khoảng trời phía trên thung lũng lúc ấy đã trống trơn. Chỉ còn sương đang cuộn lên và một đàn cò trắng bay rất xa về phía đồng bằng, nhỏ như những chấm giấy.
Quân nói nhanh, gần như hụt hơi.
- Nó vừa lướt qua ngay chỗ khe núi kia, ông ạ. Đen sì, to lắm, to hơn cả cái bóng trong ảnh camera hôm trước nhiều. Nó lướt, không vỗ cánh liên tục đâu, nó xòe cánh ra lướt một đường dài rồi khuất sau rặng núi. Cháu chỉ kịp kêu lên thì nó đã mất rồi. Nhanh lắm.
Thân hạ ống nhòm xuống, nhìn cháu một lúc. Sắc mặt Quân không giống một đứa trẻ bịa chuyện để được chú ý. Tay cậu vẫn còn run nhẹ, và mồ hôi rịn ra trên trán dù chiều núi đã lạnh.
- Cháu có chắc nó ở dưới thung, không phải trên cao? Ông hỏi.
- Dưới thung ạ. Nó lướt thấp, sát mặt sương. Cánh nó dài lắm, dài ra hai bên như một mái nhà bay.
Khoa đi tới, nghe Quân kể lại từ đầu, ghi nhanh vào sổ tay. Anh nhìn lên khoảng trời đã trống, rồi nhìn đồng hồ. Hoàng hôn mới bắt đầu xuống. Theo lệ Thân đã nói, con điểu săn từ hoàng hôn tới rạng sáng. Nó đã bắt đầu rời hang sớm hơn mọi người dự tính, hoặc ít nhất, nó đã lượn xuống thấp ngay từ khi trời còn chưa tối hẳn.
Trên đường rút xuống thôn, Khoa đi chậm lại cho ngang hàng với Thân, tách khỏi nhóm kiểm lâm đi trước một quãng.
- Ông Thân, tôi phải nói thẳng. Khoa hạ giọng. - Camera chỉ cho ta biết nó đi qua đâu, không ngăn được nó cắp thêm con trâu nào, càng không ngăn được việc nó cắp người. Hai anh em họ Trần mất tích cuối tháng ba, tới giờ chưa có xác. Nếu để thêm một người nữa mất trong rừng mà trạm vẫn chỉ ngồi xem thẻ nhớ, tôi không ăn nói được với cấp trên, cũng không ăn nói được với dân.
- Anh tính sao? Thân hỏi.
- Lập đội trừ thú. Phải có thợ săn thật, người dám đối mặt với nó, chứ kiểm lâm của tôi phần lớn chỉ quen tuần tra và xử lý bẫy thú nhỏ. Nhưng tôi cần ông nói thật một câu trước đã: theo ông, thợ săn giỏi nhất vùng này có làm gì được nó không?
Thân im lặng đi thêm mấy bước trên đường mòn tối dần. Ông nghĩ tới chiếc lông thép cắt đứt da tay mình trên chạc cây hôm mồng 3, tới vệt máu sau tai Lực, tới bóng đen hơn hai chục mét chiếm gần hết khung hình camera.
- Thợ săn giỏi thì cần. Ông nói cuối cùng. - Nhưng giỏi thôi chưa đủ với con này. Phải có người biết lệ của nó, biết nó sợ cái gì, yếu ở đâu. Mà những thứ ấy chưa ai trong chúng ta nắm chắc cả. Anh cứ triệu tập người đi. Còn phần còn lại, để tôi lên đền hỏi tiếp.
Khoa gật đầu, không hỏi thêm. Quyết định được chốt ngay trên đường mòn xuống núi hôm ấy, trước cả khi cuộc họp ở nhà văn hóa bắt đầu.
Tối hôm đó, tại sân nhà văn hóa thôn Yên Sơn, Khoa chủ trì một cuộc họp nhỏ gồm Thịnh, Thân và đại diện xã nối máy qua điện thoại. Đèn tuýp trong sân sáng trắng, dân thôn đứng vòng ngoài nghe ngóng đông hơn số người được mời. Ai cũng đã biết chuyện con trâu nhà Thịnh, chuyện tai Lực chảy máu, và chuyện cháu Quân nhìn thấy bóng đen dưới thung chiều nay. Không còn ai trong thôn nói tới hai chữ mê tín nữa. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất, bằng nhiều cách khác nhau: bao giờ thì trừ được nó.
Khoa nói rõ ràng, theo đúng tác phong của anh.
- Theo dõi bằng camera thì không đủ nữa. Con thú này đã xuống tới chuồng trâu trong thôn. Trạm đề nghị xã triệu tập ba thợ săn giỏi nhất vùng để lập đội trừ thú có tổ chức. Đội sẽ do trạm quản lý, có kế hoạch, có phân công, không ai được tự ý hành động một mình. Báo cáo lên trên tôi vẫn ghi là thú dữ lớn chưa xác định, nhưng việc ở thôn thì phải làm thật, không chờ giấy tờ.
Thịnh gật đầu, đọc ba cái tên đã bàn với Khoa từ chiều.
- Thứ nhất là Nguyễn Văn Hợi, ở xã bên. Thợ săn nổi tiếng ba xã quanh đây, bắn súng săn hai nòng, từng hạ gấu ngựa, lợn rừng không biết bao nhiêu con. Thứ hai là Đặng Văn Sinh, cháu họ ông Thân, người thôn mình, chắc tay, ít nói. Thứ ba là Phạm Văn Đức, ở làng bên, cựu bộ đội biên phòng mới giải ngũ, bắn giỏi và kỷ luật. Ba người này mà hợp lại, cộng với ông Thân dẫn đường, thì mới mong làm được việc.
Điện thoại của xã trên bàn đồng ý ngay. Giấy triệu tập sẽ được gửi đi sáng mai. Một vài người dân vòng ngoài thở phào thành tiếng, như thể chỉ riêng việc nêu tên ba người thợ săn đã làm con quái vật trên núi nhỏ đi được một phần.
Tin tức trong thôn quê đi nhanh hơn giấy tờ. Cuộc họp chưa tan hẳn thì ngoài cổng nhà văn hóa đã có tiếng người nói to, cười to, lẫn tiếng chó sủa chào người lạ.
Nguyễn Văn Hợi bước vào sân.
Anh ta bốn mươi lăm tuổi, vai u, mặt đỏ, người còn đẫm mồ hôi vì đi xe máy đường núi từ xã bên sang. Trên vai anh ta vác khẩu súng săn hai nòng bóng dầu, dây đeo da đã sờn. Hợi không chờ ai mời, cũng không hỏi cuộc họp đang bàn tới đâu. Anh ta dựng súng vào cột hiên nhà văn hóa, nhìn một vòng những người trong sân, rồi nói lớn cho cả vòng ngoài cùng nghe.
- Tôi nghe tin dưới thôn Yên Sơn có con chim dữ cắp cả trâu. Giấy mời chưa tới tay mà tôi đã sang đây rồi. Các bác cứ yên tâm. Tôi đi rừng hai mươi năm, gấu ngựa tôi còn hạ được, huống hồ một con chim. Tôi hứa chắc ở sân này: ba ngày. Ba ngày tôi đem đầu chim về cho cả thôn xem.
Tiếng xì xào nổi lên khắp sân, nửa thán phục nửa hoang mang. Thịnh cười gượng, Khoa nhíu mày vì cái hạn ba ngày tự đặt ra giữa sân đông người ấy, nhưng không ai nỡ cắt lời một người thợ săn vừa tự tìm đến giúp thôn mình.
Đúng lúc ấy, ở phía cổng, Đặng Văn Sinh vừa tới nơi. Sinh là cháu họ của Thân, người thôn Yên Sơn, đi làm ăn xa mới về thăm nhà mấy hôm, tình cờ có mặt trong thôn đúng những ngày này. Anh đứng lặng ở mép sân, chưa kịp chào ai, mắt nhìn Hợi rồi nhìn lên phía đỉnh núi tối đen sau lưng nhà văn hóa.
Thân đứng dậy, đi qua chỗ Hợi mà không nói với anh ta câu nào. Khẩu súng hai nòng dựng ở cột hiên bóng loáng dưới đèn, thứ súng đã hạ không biết bao nhiêu con thú rừng trong hai mươi năm qua. Thân nhìn nó một lúc lâu.
Rồi ông nhìn lên đỉnh Ngọc Hoa chìm trong sương và bóng tối, nơi một chiếc lông thép trong túi áo ngực của người chăn trâu bị thương vẫn chưa ai giải thích nổi, nơi đạn chưa từng được thử và tên đồng còn nằm yên trong rương thờ.
Ông nói nhỏ, chỉ đủ cho Sinh vừa tới nơi nghe thấy, khi hai chú cháu đứng cạnh nhau ở mép sân.
- Súng của nó, bắn trâu rừng thì được.
Sinh không đáp. Anh chỉ nhìn theo hướng mắt của chú mình, lên khoảng trời đen trên đỉnh núi, nơi không có một vì sao nào lọt qua được lớp sương dày đêm ấy.