ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 10: Đêm Không Ngủ Ở Yên Sơn
Đêm ngày 5 tháng 4, gần như cả thôn Yên Sơn không ngủ. Đội khảo sát xuống núi về tới thôn thì trời đã tối hẳn. Tin cả đội tận mắt thấy con điểu sải cánh…
Nội dung chương
Đêm ngày 5 tháng 4, gần như cả thôn Yên Sơn không ngủ.
Đội khảo sát xuống núi về tới thôn thì trời đã tối hẳn. Tin cả đội tận mắt thấy con điểu sải cánh hơn hai chục mét, quắp một con hoẵng giữa thung rồi bay về hang trên vách đông, lan khắp thôn nhanh hơn cả tiếng loa truyền thanh. Không còn ai cần ai thuyết phục nữa. Từ đầu thôn tới cuối thôn, nhà nào cũng sáng đèn. Người ta dồn hết trâu bò vào các chuồng gần nhà, chằng lại mái, gài chặt cửa, rồi chia nhau thức canh theo từng xóm, tay cầm sẵn mõ tre, nồi niêu, bất cứ thứ gì gõ ra tiếng động lớn, với một niềm tin giản dị rằng tiếng người đông và tiếng động lớn có thể làm con quái vật trên núi chùn cánh.
Thân đi một vòng qua các điểm canh cùng Thịnh trước khi về nhà. Ở mỗi điểm, ông chỉ dặn đi dặn lại một việc.
- Nghe tiếng chó im bặt cùng lúc, hoặc nghe tiếng rít từ trên trời, thì gõ mõ ngay và gọi cả xóm dậy. Ông nói. - Nhưng không ai được xách đuốc chạy về phía chuồng một mình. Nó xuống nhanh hơn người chạy nhiều. Đông người đứng thành vòng ở sân nhà, giữ trẻ con trong nhà, thế là đủ.
- Ông Thân này. Thịnh hỏi khi hai người đứng ở điểm canh cuối xóm, giọng hạ xuống chỉ đủ cho ông nghe. - Nói thật với tôi một câu. Mõ với đuốc, có ăn thua gì với nó không?
Thân nhìn lên đỉnh núi tối đen phía trên thôn. Sau một lúc lâu, ông trả lời thành thật như ông vẫn thành thật với người đã mất con trâu đầu đàn vì con điểu này.
- Ăn thua ở chỗ người ta không phải nằm im trong nhà mà nghe nó muốn làm gì thì làm. Ông nói. - Còn nó đã quyết xuống chuồng nào, mõ không giữ được chuồng ấy đâu, Thịnh ạ. Ta canh là canh cho người, không phải canh cho trâu.
Thịnh gật đầu chậm rãi, không hỏi thêm. Ông trưởng thôn quay về điểm canh của mình, tay cầm chiếc mõ tre cũ, và Thân biết đêm nay người đàn ông ấy cũng sẽ không ngủ, giống như ông, giống như gần hết đàn ông trong thôn này.
Về tới nhà, Quân đã ngủ say sau hai ngày leo núi liên tiếp, vẻ mặt trong giấc ngủ vẫn còn nguyên nét háo hức của một đứa trẻ chưa hiểu hết nỗi sợ của người lớn. Sen thì chưa ngủ. Cô ngồi ở gian ngoài, trước mặt là ấm trà đã nguội và một chiếc đèn pin sạc đầy đặt ngay ngắn cạnh mâm cơm để phần cha.
- Bố ăn chút gì đi đã. Cô nói. - Từ chiều tới giờ bố chưa có gì vào bụng.
Thân ngồi xuống, ăn chậm rãi vài miếng, phần nhiều là để con gái yên lòng. Ông kể vắn tắt chuyện trên núi cho Sen nghe, theo đúng những gì cả đội đã thấy, không thêm không bớt, cũng không giấu chi tiết con hoẵng bị quắp ngay giữa thung và tiếng xương gãy nghe rõ trong im lặng của rừng.
Sen nghe xong, hai tay ôm chén trà đã nguội, rất lâu không nói gì.
Gần nửa đêm, tiếng mõ đầu tiên gõ lên ở phía bìa thôn.
Nó bắt đầu bằng một hồi mõ dồn dập ở xóm ngoài, rồi lan nhanh về phía trong như lửa cháy qua rơm khô, mõ tre, tiếng nồi, tiếng thau đồng, tiếng người gọi nhau í ới. Gần như ngay sau đó, một tiếng rít dài từ trên cao xé xuống, xuyên qua tất cả những tiếng động ấy như một lưỡi dao đi qua tấm vải. Rồi tiếng mái tôn bị xé toạc, tiếng gỗ gãy răng rắc, tiếng một con bò rống lên kinh hoàng rồi tắt giữa chừng.
Thân vùng dậy, cầm đèn pin và gậy, chạy ra ngõ cùng dòng người đang ùa về phía bìa thôn với đuốc và gậy gộc. Sen chạy theo ông một đoạn, tay cũng cầm đèn, và ông không ngăn con gái lần này, vì cả thôn đều đang chạy về một hướng, không ai còn ở một mình nữa.
Nhưng khi mọi người tới nơi, mọi sự đã xong rồi.
Chuồng bò của hộ dân ở bìa thôn, một nhà nông có ba con bò là toàn bộ gia sản, bị giật mất nửa mái tôn. Những tấm tôn bị bẻ cong và xé rách như giấy, vắt trên hàng rào và cành cây quanh sân. Trong chuồng, hai con bò còn lại quỳ sụp xuống nền, run không đứng dậy nổi. Con bò thứ ba, con bò cái đang chửa, đã biến mất. Trên nền chuồng còn lại vệt máu và một đoạn dây thừng bị giật đứt, đầu dây còn buộc nguyên vào cọc.
Chủ nhà, một người đàn bà trạc tuổi Sen, ngồi bệt giữa sân ôm mặt khóc không thành tiếng. Chồng chị đứng chết lặng bên chuồng trống, tay vẫn cầm chiếc đuốc cháy dở mà anh ta đã châm lên quá muộn. Mấy người hàng xóm đứng quanh, đuốc gậy trên tay, nhìn lên bầu trời đêm trống trơn phía trên thôn, nơi bóng đen đã mất hút về phía đỉnh núi từ trước khi tiếng mõ đầu tiên kịp gõ xong hồi thứ hai.
Thân đi một vòng quanh chuồng, soi đèn pin vào từng vết tôn rách, từng vệt cào trên cọc gỗ. Bàn tay thứ gì đó đã xuống đây có những chiếc vuốt dài và cong, cào vào gỗ sâu như dao chém. Ông không cần đo cũng biết khoảng cách giữa các vết cào ấy.
Ông nói với Thịnh, người vừa tới nơi, giọng mệt và rõ.
- Ghi vào sổ thiệt hại của thôn đi. Thêm một con bò nữa. Từ hôm mồng 3 tới giờ là mười bốn con cả thảy, chưa kể con hoẵng nó quắp trước mắt đội chiều nay trên núi.
Thịnh gật đầu, bảo người ghi chép của thôn làm việc ngay tại sân, dưới ánh đuốc. Không ai trong sân nhắc lại chuyện mõ với đuốc có ăn thua hay không nữa. Mọi người chỉ lặng lẽ giúp chủ nhà chằng lại phần mái còn nguyên, dồn hai con bò còn lại sang chuồng nhà bên, và thay nhau ở lại với gia đình ấy tới gần sáng, theo cái lệ cũ của thôn quê mỗi khi một nhà có tai họa lớn trong đêm.
Thân và Sen về nhà khi trời đã quá nửa đêm. Trên đường về, cả thôn vẫn sáng đèn, tiếng mõ thỉnh thoảng lại gõ lên từng hồi ngắn ở các xóm, nhưng không còn tiếng rít nào đáp lại nữa. Con điểu đã no, hoặc đã về hang. Đêm nay, có lẽ nó sẽ không xuống nữa. Nhưng không nhà nào dám tắt đèn đi ngủ, kể cả nhà Thân.
Về tới sân, Sen không vào nhà ngay. Cô đứng lại, nhìn cha dưới ánh đèn hiên, và nói thẳng điều mà cô đã cố giữ từ bữa cơm tối hôm qua, từ lúc nghe câu hỏi của Đức ở nhà văn hóa vọng lại qua miệng người hàng xóm.
- Bố, con nói một lần này thôi, bố nghe hay không là tùy bố. Sen nói, nước mắt chảy xuống mà giọng cô vẫn cố giữ cho vững. - Nhà mình đã mất ông nội vì con điểu này rồi. Ông nằm lại trên núi bốn mươi hai năm, nhà mình chỉ có một ngôi mộ gió không có cốt. Con không muốn mất thêm bố nữa. Đội săn cần người dẫn đường thì thôn còn người khác biết đường núi, đâu phải chỉ mình bố. Bố đã bảy mươi hai tuổi rồi, bố không còn là người thợ săn của năm 1983 nữa.
Thân đứng yên nghe con gái nói hết, không cắt lời, không cãi một chữ. Khi Sen nói xong, ông chỉ đưa tay lau nước mắt trên má con gái bằng cái cử chỉ vụng về của một người cha ít khi làm việc ấy, rồi nói chậm rãi.
- Bố biết con sợ điều gì. Ông nói. - Bố cũng sợ điều ấy, Sen ạ. Nhưng con nghe bố nói đây: mai bố phải lên đền Thượng một chuyến nữa. Không phải lên để nhận đi săn, cũng không phải lên để khoe cây nỏ. Trong sách đền và trong tổ huấn của họ Hà nhà mình, chắc chắn có ghi cách trừ nó. Bốn mươi hai năm nay bố không dám mở những trang ấy ra vì bố sợ. Bây giờ nó đã xuống tới chuồng bò trong thôn rồi. Nếu người giữ nỏ mà không đi tìm cách, thì không ai tìm thay được. Tới lúc nó không còn dừng ở trâu bò nữa mà xuống bắt người, lúc ấy có khóc cũng muộn.
Sen nhìn cha rất lâu trong ánh đèn hiên. Cô là người hiểu rõ nhất trong nhà rằng khi cha mình đã nói một việc bằng giọng chậm rãi và rõ ràng như thế, không nước mắt nào lay chuyển được nữa. Cô không nói thêm. Cô vào nhà trước, để lại một mình ông ngoài hiên với bầu trời đêm phía đỉnh núi.
Đúng lúc ấy, từ trên cao vọng xuống thôn một tiếng rít dài, rất xa nhưng vẫn đủ làm những tấm tôn trên các mái nhà trong thôn rung lên khe khẽ. Nó không phải tiếng tấn công. Nó giống tiếng của một con thú đã no, đang gọi xuống từ vương quốc của nó trên đỉnh núi, nhắc cho cả một thôn làng mất ngủ bên dưới biết ai mới là chủ của màn đêm này.
Và từ đền Thượng trên đỉnh Ngọc Hoa, chuông đền ngân lên đáp lại.
Tiếng chuông trầm, dài, trong vắt trong đêm không gió, ngân qua các mái nhà, qua những điểm canh còn thức, qua cả khoảng sân nhà Thân nơi ông đang đứng. Nó giống như một câu trả lời bình thản của ngôi đền đã ngồi trên đỉnh núi ấy hàng trăm năm, chứng kiến không biết bao nhiêu lần con điểu thức giấc và bao nhiêu người không trở về.
Thân vào nhà, tới trước bàn thờ cha. Ông thắp một nén hương mới, cắm vào bát hương, và đứng rất lâu trong làn khói mỏng, nhìn tấm ảnh đen trắng của Hà Văn Cừ, người thợ săn giữ nỏ đời thứ ba, mất trên núi năm bốn mươi bảy tuổi và chưa từng được đưa về nhà.
- Mai con lên đền. Ông khấn nhỏ, giọng chỉ đủ cho mình và người trong ảnh nghe. - Cha ở trên đó lâu rồi, chắc cha biết nó sợ cái gì.
Ngoài sân, tiếng chuông đền đã tắt từ lâu, nhưng trong đầu Thân, nó vẫn còn ngân, cùng với một quyết định vừa được chốt lại sau bốn mươi hai năm trốn tránh: sáng mai, ông sẽ đi tìm tổ huấn trừ điểu, và lần này, ông sẽ không quay lưng lại nữa.