ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 12: Tổ Huấn Họ Hà
Chiều ngày 6 tháng 4, Thân về tới nhà khi nắng đã ngả qua rặng tre sau vườn. Ông không vào gian ngoài nghỉ như mọi khi. Ông đi thẳng vào nhà thờ họ ở…
Nội dung chương
Chiều ngày 6 tháng 4, Thân về tới nhà khi nắng đã ngả qua rặng tre sau vườn.
Ông không vào gian ngoài nghỉ như mọi khi. Ông đi thẳng vào nhà thờ họ ở gian bên, nơi đặt bàn thờ tổ của họ Hà và bàn thờ riêng của cha ông. Quân theo sau, tay còn cầm nắm cơm muối vừng ăn dở từ lúc xuống núi. Sen đang quét sân, thấy cha đi thẳng vào nhà thờ họ giữa ban ngày thì dừng chổi, nhưng không hỏi. Cô chỉ nhìn theo, rồi lặng lẽ đi vào bếp nhóm lại lửa, như người biết trước chiều nay trong nhà sẽ có chuyện không tránh được nữa.
Nhà thờ họ mát và tối. Mùi hương trầm cũ, mùi gỗ lim, mùi giấy lâu năm quyện vào nhau. Trên bàn thờ, bát hương của tổ và bát hương của Hà Văn Cừ đặt cạnh nhau. Ảnh của cụ tổ không còn, chỉ có bài vị chép tay. Thân thắp ba nén hương, cắm lên, đứng khấn thầm một lúc lâu rồi mới quay xuống chiếc hòm gỗ lim đặt dưới gầm bàn thờ.
Chiếc hòm ấy ông đã mở một lần vào năm 1983, sau khi cha mất, để cất ống tên vào và thề không mở lại. Từ đó tới nay, hơn bốn mươi năm, hòm chỉ được lau bụi bên ngoài mỗi dịp giỗ tết. Khóa đồng đã xỉn, bản lề kêu khẽ khi ông nhấc nắp.
Trong hòm, trên cùng là ống tên bọc vải điều, bên dưới là cây nỏ lim bọc đồng mà ông đã ngắm lại mấy hôm trước, và ở đáy hòm, gói trong hai lớp vải dầu, là một quyển sổ chép tay bìa vải nâu, mép đã quăn.
- Đây là tổ huấn họ Hà. Thân nói với Quân, giọng trầm xuống. - Tay cụ tổ Hà Văn Quảng chép. Cụ là người nhặt được tên đồng ở suối Đá Chông, cũng là người rèn cây nỏ này. Những gì cụ biết về con điểu và về cách dùng tên, cụ chép hết vào đây, dặn đời sau chỉ mở khi con điểu thức lại.
Quân ngồi xuống chiếu, hai tay đặt trên đầu gối, không dám chạm vào quyển sổ. Thân đeo kính lão Sen mua cho, mở trang đầu tiên, đọc thành tiếng chậm rãi, từng phần một, như đọc cho cả người trong ảnh trên bàn thờ cùng nghe.
Phần đầu tổ huấn nói về cây nỏ.
Cụ tổ chép rằng cây nỏ lim bọc đồng này không phải nỏ săn thường. Gỗ lim lấy từ rừng già trên Ngọc Hoa, cánh nỏ bọc đồng để chịu được sức kéo lớn, dây nỏ bện bằng gân và sợi đặc biệt mà đời sau chỉ còn biết thay khi đứt, không còn biết bện mới y như cũ. Nỏ này chỉ dùng với một thứ tên duy nhất: đầu tên đồng ba cạnh đúng kiểu Cổ Loa. Tên thường, tên sắt, tên đồng đúc lại sau này, lắp vào nỏ này cũng bắn được, nhưng bắn vào con điểu chỉ như gãi ngứa. Cụ tổ viết rõ một câu và gạch dưới: không phải nỏ thiêng ở một mình, mà nỏ và tên Cổ Loa phải đi cùng nhau mới thành một bộ.
- Thế đạn súng thì sao ông? Quân hỏi nhỏ.
- Cụ không biết súng tây. Thân nói. - Nhưng cụ biết lông thép. Đạn hoa cải của các cháu bắn vào chỉ tóe lửa, cụ đã chép trước cả trăm năm rồi: vật cứng thường chạm vào lông nó đều văng ra.
Ông lật sang phần thứ hai. Đây là phần dài nhất, nét chữ cẩn thận hơn hẳn, có chỗ cụ tổ còn chép lại hai lần cho khỏi nhầm.
Đó là cách gia trì đầu tên.
Cụ tổ chép: trước khi dùng, đầu tên phải ngâm vào nước củ nâu sắc đặc, thứ nước nâu sẫm chát đắng mà người vùng này vẫn dùng nhuộm vải và xử lý gỗ, trộn với máu gà trống thiến và tro bùa Núi Tản xin ở đền Thượng. Ba thứ ấy hòa vào nhau, ngâm đầu tên đủ thời gian tổ huấn ghi, không được rút ngắn. Lớp ngâm ấy làm đầu tên đủ cứng để không gãy khi chạm lông thép, và đủ dương khí để tên không bị thứ khí lạnh trong hang điểu làm cho vô hiệu ngay khi vừa chạm vào thân nó.
- Tro bùa là tro ở đền Thượng sáng nay mình lên phải không ông? Quân hỏi.
- Phải. Thân gật đầu. - Tro bùa Núi Tản, bà Mùi giữ. Nhà mình không tự làm được tro ấy. Mỗi lần gia trì là phải lên đền xin, mà đền cũng không còn nhiều. Cụ tổ chép là lớp này là lớp nền. Có nền, tên mới đứng vững được. Nhưng nền chưa đủ để tên thiêng.
Ông ngừng lại ở đó lâu hơn thường lệ. Ngón tay ông lần theo dòng chữ tiếp theo, dòng chữ mà chính ông đã đọc lần cuối vào năm 1983, trước khi theo cha lên núi, và đã cố quên đi từ bấy đến nay.
Phần thứ ba của tổ huấn chỉ có mấy dòng, nhưng được chép to và đậm hơn cả.
Cụ tổ chép: muốn tên thiêng thật sự, ngay trước phát bắn, người bắn phải bôi máu tươi của chính mình lên đầu tên. Không phải máu để sẵn, không phải máu của người khác, không phải máu gà hay máu thú. Là máu của chính bàn tay sẽ kéo dây nỏ ấy, bôi ngay trước khi bắn, khi máu còn ấm và còn ướt. Tổ huấn dặn thành một câu ngắn, đời đời con cháu họ Hà phải thuộc: máu ai, người ấy bắn.
Thân đọc câu ấy thành tiếng, chậm từng chữ.
- Máu ai, người ấy bắn.
Quân nhắc lại theo, như học thuộc một câu trong sách.
- Nghĩa là sao hả ông? Nếu cháu bôi máu của cháu, thì cháu phải là người bắn ạ?
- Đúng vậy. Thân nói. - Máu là cái nối phát bắn với người bắn. Tên nhận máu của ai thì chỉ đi theo tay người ấy. Người khác cầm nỏ bắn thay, dù bắn giỏi hơn, tên cũng chỉ là một mũi tên đồng thường. Bôi máu của ông mà để người khác bắn, cũng vô ích. Bôi máu khô, bôi từ hôm trước, cũng vô ích. Phải là máu tươi, của chính người bắn, bôi ngay trước phát bắn.
Ông nói tới đó thì nhớ lại năm 1983 rõ mồn một. Năm ấy cha ông là người bắn, ông là người giữ ống tên. Trước khi lên núi, cha ông đã làm đúng lễ gia trì lớp nền. Nhưng đến lúc con điểu bổ xuống, mọi việc xảy ra quá nhanh, và sau này, trong những đêm không ngủ suốt bốn mươi hai năm, Thân đã tự hỏi không biết bao nhiêu lần về khoảnh khắc cuối cùng ấy: liệu cha ông có kịp bôi máu của chính mình lên đầu tên trước phát bắn trượt ấy không, hay phát tên năm ấy đã thiếu mất lớp quan trọng nhất. Ông chưa từng nói câu hỏi ấy thành lời với ai, và chiều nay ông cũng không nói. Ông chỉ gấp ý nghĩ ấy lại, cất vào chỗ cũ trong lòng.
- Cụ còn chép gì nữa không ông? Quân hỏi.
Thân lật trang tiếp theo.
Cụ tổ chép thêm một việc nghe như chuyện lạ: tên Cổ Loa khi được gia trì đủ cả hai lớp và bắn ra từ nỏ thần, lúc bay sẽ xé gió phát ra tiếng huýt vang như tiếng sáo gọi. Không phải tiếng gió thường, mà là một tiếng sáo dài, nghe rõ giữa tiếng rừng. Cụ tổ dặn con cháu: nghe thấy tiếng huýt ấy là biết tên đã đi đúng đường, tên đã nhận máu và nhận nền gia trì. Nếu bắn ra mà tên bay lặng im như tên thường, thì phát ấy đã hỏng từ trước khi rời dây, đừng mong nó làm được gì con điểu.
- Tên mà kêu được như sáo ạ? Quân mở to mắt.
- Cụ chép thế. Thân nói. - Ông chưa từng nghe thấy tiếng ấy. Năm 1983, phát tên của ông nội cháu bay đi, ông không nhớ có tiếng huýt nào không. Lúc ấy tai ông chỉ còn tiếng rít của con điểu và tiếng cha cháu hét lên. Có thể phát ấy vốn không có tiếng huýt. Có thể vì thế mà nó trượt.
Ông nói câu cuối rất khẽ, như nói với chính mình hơn là với cháu.
Trang cuối cùng của tổ huấn là phần Thân mong đợi nhất và cũng sợ nhất: phần nói về chỗ chết của con điểu.
Nhưng cụ tổ chỉ chép đúng một dòng mơ hồ.
Ông đeo kính sát hơn, đọc đi đọc lại dòng chữ đã nhạt: điểu chỉ chết vì một chỗ không lông trên thân nó; chỗ ấy chỉ người đứng dưới đường bổ của nó mới thấy được.
Chỉ vậy. Không có vị trí cụ thể. Không có bên trái hay bên phải, không có trên cổ hay dưới bụng, không có to hay nhỏ. Một chỗ không lông, và chỉ thấy được khi đứng ngay dưới đường nó bổ xuống, tức là ở vào vị trí nguy hiểm nhất, vị trí mà người đứng đó hoặc bắn trúng, hoặc bị quắp đi như cha ông năm xưa.
Thân ngồi im, tay đặt lên trang giấy. Ông đã đi một vòng từ đền Thượng xuống nhà thờ họ, từ sách đền tới tổ huấn, và cuối cùng ông có được cách làm cho tên thiêng, có được câu dặn về máu, có được dấu hiệu tiếng sáo, nhưng chỗ không lông ấy ở đâu, tổ huấn không nói rõ.
Ở cửa nhà thờ họ, có tiếng động rất nhẹ.
Sen đã đứng ở đó từ lúc nào. Cô đứng ngoài ngưỡng cửa, tay nắm mép khăn, mặt tái đi. Cô đã nghe hết. Nghe cha đọc về nước củ nâu, về máu gà trống thiến, về tro bùa, và nhất là nghe câu máu ai, người ấy bắn, bằng giọng của chính cha mình. Cô hiểu ngay điều mà Quân còn chưa hiểu hết: câu tổ huấn ấy khóa cha cô vào vị trí người bắn. Không ai bắn thay được. Không ai đứng thay được dưới đường bổ của con điểu.
- Bố. Sen nói, giọng nghẹn. - Bố đọc lại những thứ này để làm gì, bố nói thật cho con nghe.
- Để biết cách. Thân nói, không giấu con gái nữa. - Sách đền mất trang cuối. Chỉ còn tổ huấn nhà mình. Bố không đọc thì không ai biết cách cả.
Sen không vào trong. Cô đứng ở cửa một lúc lâu, nhìn bàn thờ ông nội, nhìn chiếc hòm mở, nhìn ống tên trên chiếu, rồi quay đi vào nhà trong không nói thêm câu nào. Tiếng chân cô nhẹ và nhanh, như người cố không để mình khóc thành tiếng trước mặt cha và con trai.
Quân nhìn theo mẹ, rồi quay lại nhìn ông ngoại, bối rối.
Thân gấp tổ huấn lại, gói cẩn thận vào hai lớp vải dầu như cũ, nhưng ông không đặt quyển sổ xuống đáy hòm ngay. Ông giữ nó trên đầu gối một lúc lâu, như cân nhắc một điều đã rõ ràng mà vẫn nặng.
- Cụ tổ không viết rõ chỗ không lông ở đâu. Ông nói với Quân, cũng là nói để kết lại buổi chiều hôm ấy. - Có lẽ cụ cũng chưa từng nhìn thấy nó, hoặc thấy rồi thì không về được để viết.
Ngoài sân, nắng chiều đã tắt. Từ phía đỉnh núi, sương bắt đầu tràn xuống thôn sớm hơn mọi ngày.