ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 15: Con Trâu Mồi
Chiều ngày 7 tháng 4, nhà văn hóa thôn Yên Sơn họp kín. Không có loa gọi dân như những buổi họp thôn thường lệ. Chỉ có những người cần có mặt: Thân, ba…
Nội dung chương
Chiều ngày 7 tháng 4, nhà văn hóa thôn Yên Sơn họp kín.
Không có loa gọi dân như những buổi họp thôn thường lệ. Chỉ có những người cần có mặt: Thân, ba thợ săn Hợi, Sinh và Đức, Khoa từ trạm kiểm lâm xuống, Thịnh trưởng thôn, và bà Mùi từ đền Thượng xuống sau khi được Khoa cho người lên đón. Cửa nhà văn hóa đóng lại. Ngoài sân, vài người dân đứng xa xa nhìn vào, biết trong ấy đang bàn việc sống còn của cả thôn, nhưng không ai lại gần.
Đức là người trình bày kế hoạch.
Anh đã tính việc này suốt hai ngày, kể từ hôm cả đội tận mắt thấy con điểu quắp hoẵng bay về hang trên vách đông. Trước mặt anh trên bàn là một tờ giấy lớn vẽ tay: vách đông, miệng hang, thung phía dưới, và một mỏm đá phẳng ở phía đối diện được anh khoanh tròn bằng bút đỏ.
- Đây là Mỏm Sáo. Đức nói, tay chỉ vào vòng tròn đỏ. - Một mỏm đá phẳng, rộng vừa đủ cho một con trâu đứng và vài vị trí nấp quanh mép đá. Từ mỏm nhìn sang thấy thẳng miệng Hang Điểu trên vách đông, khoảng ba trăm mét đường chim bay. Con điểu mỗi lần về hang đều lướt qua khoảng trời trên thung phía trước mỏm. Nếu có mồi ở giữa mỏm, nó sẽ phải sà xuống ngay trước mặt đội.
- Mồi là gì? Hợi hỏi.
- Một con trâu. Đức nói. - Buộc ở giữa mỏm, từ lúc chiều còn sáng. Đội nấp ở các khe đá quanh mỏm, chia ba hướng, giữ im lặng tuyệt đối. Không ai nổ súng khi nó còn bay vòng. Chỉ khi nó sà xuống hẳn, chân chạm tới mồi, ở cự ly gần nhất, mới bắn. Và phát đầu tiên phải theo lệnh. Bắn sớm khi nó còn ở xa chỉ làm nó cảnh giác và phá hỏng vị trí của cả đội.
Anh nói chậm, rõ, theo đúng cách một người lính cũ trình bày một phương án tác chiến. Anh vẽ thêm trên giấy vị trí của từng người: Hợi ở khe đá phía bắc mỏm, Sinh ở phía nam, chính anh ở phía đông gần mép vực, và một vị trí ở giữa cao hơn một chút, nơi người quan sát có thể nhìn bao quát cả mỏm và ra hiệu lệnh.
- Vị trí quan sát này phải là người thuộc địa hình và đọc được gió trên cao. Đức nói, và nhìn sang Thân. - Cả đội này chỉ có một người như thế.
Mọi ánh mắt trong phòng dồn về phía Thân.
Ông ngồi ở đầu bàn, hai tay đặt trên đầu gối, nghe Đức trình bày từ đầu tới cuối không cắt lời một lần nào. Ông biết kế hoạch này là kế hoạch tử tế nhất mà đội có thể vạch ra bằng súng săn và sức người. Nó có kỷ luật, có vị trí, có lệnh nổ súng, có đường rút. Nó hơn hẳn cách làm liều của những người như Nam. Và nó vẫn có một chỗ thiếu mà chỉ mình ông thấy rõ: súng săn bắn vào con điểu chỉ tóe lửa. Điều đó cả đội đã biết về lý thuyết qua lời ông kể, nhưng chưa ai trong phòng này, kể cả Đức, đã tận mắt nhìn thấy đạn văng ra khỏi lớp lông thép ấy. Họ vẫn tin, ở một góc nào đó trong đầu, rằng ba khẩu súng bắn cùng lúc ở cự ly gần thì ít nhất cũng làm nó bị thương.
Nhưng một kế hoạch có kỷ luật vẫn hơn không có kế hoạch nào. Và Thân biết: nếu ông từ chối đi, đội vẫn sẽ lên Mỏm Sáo, chỉ thiếu người dẫn đường và đọc dấu hiệu trời, và khi ấy nguy cơ còn lớn hơn.
- Tôi đi. Ông nói. - Tôi dẫn đường lên Mỏm Sáo, tôi ngồi vị trí quan sát, tôi giữ lệ và giữ gió cho các anh. Đường lên mỏm có hai đoạn vách trơn và một bãi xương thú cũ dưới chân vách, đi đêm rất dễ lạc. Không có tôi, các anh lên tới nơi cũng đã mất sức và mất giờ.
- Còn cây nỏ của ông? Hợi hỏi thẳng, như hỏi điều cả phòng đang chờ. - Ông đi mà không mang nỏ thì lên ngồi nhìn à?
Thân nhìn Hợi một lúc.
- Việc nỏ là việc của nhà tôi. Ông nói, không cao giọng. - Chiều nay chúng ta chốt kế hoạch phục kích bằng súng và trâu mồi. Tôi nhận phần dẫn đường và quan sát. Tới ngày lên mỏm, tôi sẽ tự biết mình mang theo gì. Không ai phải lo thay phần ấy.
Hợi cười khẽ, định nói thêm, nhưng Sinh ngồi bên khẽ chạm tay vào khuỷu tay anh ta, và Hợi im. Đức gật đầu, ghi vào sổ tay của mình một dòng, chấp nhận câu trả lời ấy như một quân lệnh đã rõ phần việc: Thân đi, giữ vị trí quan sát.
Thịnh lên tiếng về con trâu mồi.
- Trâu thì lấy trâu nhà tôi. Ông trưởng thôn nói. - Nhà tôi đã mất một con đầu đàn vì nó rồi. Thêm một con làm mồi, nếu trừ được nó, là rẻ. Nếu không trừ được, nhà tôi chịu thêm một lần mất nữa, cả thôn ghi vào sổ chung, sau này tính sau. Không ai trong đội phải lo tiền trâu.
Không ai phản đối. Việc trâu mồi coi như đã chốt: trâu nhà Thịnh, buộc giữa Mỏm Sáo, từ chiều ngày lên mỏm.
Khoa chốt thêm phần liên lạc và hậu cần: bộ đàm kiểm tra hai lần trước khi lên, đội ở chân núi giữ liên lạc suốt đêm, nếu tới rạng sáng không có tín hiệu theo lịch hẹn thì đội cứu hộ mới được lên, tuyệt đối không ai tự ý lên núi trong đêm như trường hợp của Nam nữa. Cả phòng im lặng một lúc khi Khoa nhắc tới Nam. Khẩu súng gãy của anh ta vừa được niêm phong sáng nay, và vợ anh ta đang ở nhà với hai đứa con nhỏ, chờ một tin mà ai trong phòng này cũng biết là sẽ không lành.
Đúng lúc cuộc họp tưởng như đã xong, bà Mùi mới lên tiếng.
Bà ngồi ở góc bàn từ đầu buổi, nhỏ người, im lặng nghe những người trẻ hơn bàn chuyện vị trí và súng đạn, không chen một lời nào. Bây giờ bà đặt lên bàn một chiếc túi vải nhỏ, mở miệng túi, đổ ra những viên sáp màu vàng nhạt, tròn và dẹt, to chừng đầu ngón tay cái, mỗi viên được vo cẩn thận và gói riêng trong một mẩu lá khô.
- Đây là nút tai bằng sáp ong. Bà nói. - Tôi nấu theo lệ cũ của người trông đền. Sáp ong rừng, nấu vừa lửa, vo khi còn ấm, để nguội thì vừa mềm vừa kín tai. Người xưa lên núi trong những năm điểu thức đều mang theo thứ này.
Bà đẩy từng viên về phía từng người quanh bàn.
- Các anh bàn chuyện bắn nó, nhưng chưa ai bàn chuyện nghe nó. Bà nói tiếp, giọng đều như đọc sổ. - Tiếng rít của nó không phải tiếng kêu thường. Nghe trực tiếp ở cự ly gần mà tai không được nút kín, màng tai sẽ chảy máu, đầu choáng, người đứng không vững, tay cầm súng cũng không còn là tay của mình nữa. Anh Lực chăn trâu mới chỉ nghe ở bìa rừng đã điếc một bên tai tới giờ. Giữ được đôi tai mới giữ được cái đầu tỉnh. Đầu không tỉnh thì vị trí nào, lệnh nào cũng vô ích.
Bà phát cho Thân một viên, cho Đức một viên, cho Sinh một viên, cho Khoa một viên dù Khoa ở chân núi, và cho Hợi một viên.
Hợi cầm viên sáp của mình lên, ngắm nghía trên lòng bàn tay, lăn qua lăn lại như ngắm một viên kẹo.
- Bà Mùi, đi săn mà bịt tai thì nghe ngóng bằng gì? Anh ta cười lớn, tiếng cười vang trong phòng họp kín làm mấy người giật mình. - Nó tới sau lưng mà tai bịt kín thế này thì biết đường nào mà quay lại? Tôi đi rừng hai mươi năm bằng đôi tai này đấy. Thứ này là cho người yếu vía thôi.
- Anh Hợi. Bà Mùi nói, không giận, giọng vẫn đều. - Người xưa bịt tai không phải vì yếu vía. Họ bịt tai vì đã có người điếc vì tiếng rít của nó rồi.
Hợi cười xòa, đặt viên sáp xuống bàn, rồi khi cuộc họp tan và mọi người đứng dậy nói chuyện riêng thành từng nhóm nhỏ, anh ta tiện tay gạt viên sáp của mình vào bụi cây ngay sau nhà văn hóa, qua ô cửa sổ đang mở. Viên sáp vàng nhạt rơi vào đám lá khô dưới bụi, khuất hẳn.
Chỉ có Sinh nhìn thấy.
Sinh đứng ở cửa nhà văn hóa, đang buộc lại dây giày, ngẩng lên đúng lúc viên sáp rơi. Anh nhìn bụi cây, rồi nhìn Hợi đang cười nói với hai người kiểm lâm ở sân như không có chuyện gì xảy ra. Sinh hé miệng định nói, nhưng Hợi đã quay đi, và xung quanh đang ồn ào chuyện trâu mồi và giờ giấc lên đường. Sinh khép miệng lại. Anh tự nhủ sẽ nói riêng với Hợi trước ngày lên mỏm, khi chỉ có hai anh em, vì nói giữa đám đông lúc này chỉ làm Hợi tự ái và càng không nghe. Anh không biết rằng ý định nói riêng ấy sẽ bị những ngày bận rộn sau đó cuốn đi mất, cho tới tận đêm trên Mỏm Sáo.
Trên đường từ nhà văn hóa về nhà, khi trời đã sẩm tối, Sinh chạy theo kịp Thân ở quãng đường vắng giữa hai xóm.
- Chú Thân. Sinh gọi nhỏ.
Thân dừng lại. Trong ba thợ săn, Sinh là người ông quý nhất, không chỉ vì là cháu họ, mà vì Sinh là người duy nhất trong đội chịu nghe hết lời dặn trước khi hỏi lại.
- Viên sáp của anh Hợi. Sinh nói, hạ giọng dù quanh đó không có ai. - Lúc tan họp, cháu thấy anh ấy vứt vào bụi cây sau nhà văn hóa. Cháu chưa kịp nói gì. Chú có cần cháu quay lại nhặt lên giữ hộ, tới ngày lên mỏm đưa lại cho anh ấy không?
Thân đứng im trong bóng tối đang xuống dần trên đường thôn. Ông nhìn về phía nhà văn hóa đã khuất sau rặng tre, nơi một viên sáp ong nhỏ nằm trong đám lá khô, vô hình và vô ích. Ông nghĩ về Hợi: người thợ săn giỏi nhất vùng, người hứa ba ngày đem đầu chim về, người cười lớn nhất trong phòng họp chiều nay. Ông nghĩ về tất cả những người giỏi nghề mà ông từng biết trong đời, và cách họ thường chết không phải vì thiếu tài, mà vì coi thường đúng một lệ nhỏ nhất.
- Kệ nó. Thân nói chậm rãi. - Cháu nói bây giờ nó cũng không nghe đâu. Người không nghe lệ thì lệ sẽ dạy nó bằng cách khác.
Sinh im lặng đi bên ông thêm một đoạn. Cả hai đều không nói thêm gì về viên sáp ấy nữa. Nhưng từ buổi chiều hôm ấy, trong đầu Thân có thêm một việc được ghi vào cùng danh sách với ba mũi tên, với hạn rằm sáu ngày, với khẩu súng gãy của Nam: một viên sáp ong nằm trong bụi cây sau nhà văn hóa thôn, và một người thợ săn sẽ lên Mỏm Sáo với đôi tai trần, đối diện với thứ tiếng rít đã làm điếc một bên tai của người chăn trâu chỉ ở bìa rừng.