ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 14: Người Trong Thôn Bỏ Lên Rừng
Ngày 7 tháng 4, ngày thứ năm kể từ hôm phát hiện những xác thú đầu tiên trên chạc cây, thôn Yên Sơn thức dậy trong một không khí khác hẳn mấy hôm trước.…
Nội dung chương
Ngày 7 tháng 4, ngày thứ năm kể từ hôm phát hiện những xác thú đầu tiên trên chạc cây, thôn Yên Sơn thức dậy trong một không khí khác hẳn mấy hôm trước.
Không còn là nỗi sợ xôn xao của những ngày đầu, khi người ta còn kéo nhau ra đầu thôn bàn tán và đoán già đoán non. Sáng nay nỗi sợ đã lặng xuống thành việc làm cụ thể. Ở xóm dưới, một hộ dân đã gói ghém đồ đạc từ lúc trời chưa sáng, khóa cửa nhà, gửi trâu sang chuồng họ hàng, rồi cả nhà ba người dắt nhau đi ở nhờ bên huyện khác. Họ không nói đi bao lâu. Họ chỉ nói khi nào núi yên thì về. Cánh cửa gỗ nhà họ khép lại, ổ khóa mới toanh, và một tờ giấy dán trên cửa ghi số điện thoại của người anh họ ở thôn bên, ai cần việc gì thì gọi số ấy.
Thân đi qua ngôi nhà khóa cửa ấy trên đường lên trạm kiểm lâm buổi sáng, đứng lại nhìn một lúc. Ông không trách họ. Ông hiểu: ở lại mà đêm nào cũng thức trắng nghe tiếng rít trên đỉnh núi, nhìn chuồng trâu nhà mình như nhìn một cái bẫy đang chờ sập, thì không phải ai cũng chịu nổi. Và họ mới chỉ là nhà đầu tiên. Nếu con điểu còn ở trên núi thêm một tuần nữa, sẽ còn những cánh cửa khác khóa lại.
Đường mòn lên đền Thượng, mọi khi vào đầu tháng tư đã bắt đầu có khách hành hương và người bán hàng rong gánh hàng lên sớm, sáng nay vắng hẳn. Mấy quán nước dưới chân núi mở cửa mà không có khách, chủ quán ngồi nhìn đường núi trống trơn. Một chị bán hương nói với Thân khi ông đi ngang: tuần này coi như mất trắng, khách dưới xuôi nghe tin thú dữ là không ai dám lên đền nữa. Kinh tế vùng chân núi sống nhờ đường lên đền, chỉ mấy ngày đã chùng xuống trông thấy.
Ở trạm kiểm lâm Tản Viên, Khoa tiếp Thân trong phòng làm việc với một tập giấy mới in còn để trên bàn.
- Công văn của cấp trên vừa xuống sáng nay, ông ạ. Khoa nói, giọng vẫn giữ đúng mực như mọi khi, nhưng nét mặt thì không giấu được mệt mỏi sau mấy đêm trực liên tiếp. - Vụ thú dữ lớn chưa xác định ở khu vực Ngọc Hoa phải có kết quả xử lý trong tuần này. Nếu địa phương không tự xử lý được, vườn sẽ đề nghị biện pháp mạnh từ bên ngoài vào. Họ không nói rõ biện pháp mạnh là gì, nhưng tôi hiểu là đội săn của tỉnh, hoặc những cách làm mà mình không kiểm soát được, ngay trên đường du lịch lên đền.
- Thế là mình còn mấy ngày? Thân hỏi.
- Tính cả hạn rằm của đền mà bà Mùi nói, thì cũng chỉ tới hết ngày 12. Khoa nói. - Sau ngày ấy, dù bên lệ đền hay bên công văn, mình đều không còn được tự quyết nữa.
Thân gật đầu. Hai cái hạn, một từ sách đền mấy trăm năm, một từ công văn mới in sáng nay, cùng chỉ vào một ngày. Ông đã nghe hạn rằm ở đền hôm qua. Hôm nay ông nghe thêm một hạn nữa, bằng giấy trắng mực đen, và cả hai đều không cho phép ai chần chừ thêm.
Buổi sáng hôm ấy, Khoa nhờ Thân đi cùng đội kiểm lâm kiểm tra các lán rừng trên sườn núi phía tây và dọc đường lên đền, để nhắc những người còn ở lại trong rừng rút xuống thôn trước khi trời tối. Có người hái thuốc, có người trông lán mật ong, có người chỉ đơn giản là chưa tin chuyện con điểu. Thân đi cùng, phần vì ông thuộc từng lán, từng lối mòn, phần vì lời của ông với người đi rừng trong vùng này vẫn còn trọng lượng hơn lời của công văn.
Đội đi qua từng lán, gõ cửa, nói rõ một việc: từ hôm nay, không ai ở lại trên rừng qua đêm, không ai lên núi một mình, gia súc phải dồn về chuồng gần nhà trước khi mặt trời lặn. Hầu hết mọi người nghe và dọn đồ xuống ngay. Có người còn cảm ơn. Nhưng cũng có người cười xòa, nói thú dữ năm nào chẳng có tin đồn, súng trong nhà còn đấy, không phải lo. Thân nhìn những người cười ấy lâu hơn một chút, và ghi nhớ mặt họ, như ghi nhớ những chỗ yếu nhất trên một con đê trước mùa lũ.
Trong số những người đội gặp hôm ấy, có Đỗ Văn Nam.
Nam ba mươi mốt tuổi, ở xóm giữa thôn Yên Sơn, làm nghề đi rừng lấy mật ong và hái thuốc thuê, tính nóng và tự tin vào khẩu súng săn của mình. Khi đội tới lán của Nam ở lưng chừng sườn phía tây, Nam đang ngồi mài dao, khẩu súng dựng ở góc lán. Khoa nhắc lệ cấm lên núi một mình, Nam nghe xong chỉ cười.
- Các anh cứ làm việc của các anh. Nam nói. - Tôi ở rừng này từ bé, thú nào tôi chưa gặp. Con chim ấy to thì to, chứ nó cũng là chim, cũng biết sợ tiếng súng.
- Nó không sợ tiếng súng đâu, Nam. Thân nói, giọng không cao nhưng rõ từng chữ. - Đạn bắn vào người nó chỉ tóe lửa. Mấy người thợ săn giỏi nhất vùng này còn chưa dám nói như anh. Anh rút xuống thôn ít hôm, chờ đội xử lý xong rồi hãy lên lại.
Nam không cãi lại ông già giữ nỏ của thôn. Anh ta gật đầu cho qua chuyện, hứa với đội là chiều sẽ xuống. Đội ghi vào sổ là lán đã được nhắc và người đã hứa rút, rồi đi tiếp sang lán khác. Thân đi được một đoạn còn quay lại nhìn. Nam vẫn ngồi ở cửa lán, mài dao, khẩu súng vẫn dựng ở góc, và ông có một linh cảm rất xấu mà ông đã học được cách không coi thường sau bốn mươi hai năm: linh cảm về một người đã hứa cho qua chuyện.
Chiều hôm ấy Nam không xuống thôn.
Không ai trong thôn để ý ngay, vì đàn ông đi rừng về muộn là chuyện thường. Chỉ tới khi vợ Nam chạy sang nhà Thịnh lúc trời đã tối hẳn, nói chồng chưa về, điện thoại không liên lạc được, cả thôn mới giật mình. Thịnh gọi lên trạm, Khoa gọi xuống, và Thân nghe tin qua điện thoại của Thịnh khi ông vừa ăn xong bữa tối.
Đêm đó, không đội nào lên núi tìm người. Đó là quyết định đau nhưng đúng, do chính Thân nói ra khi Khoa gọi hỏi ý ông: lên núi trong đêm, khi con điểu đang săn, với đèn pin và tiếng gọi nhau, chỉ là dâng thêm người cho nó. Phải chờ tới sáng. Vợ Nam khóc qua điện thoại, và Thân nghe tiếng khóc ấy mà không nói được câu an ủi nào cho trọn. Ông chỉ nói đội sẽ lên từ lúc trời vừa sáng, đi đúng đường Nam hay đi, kiểm tra lán trước tiên.
Ông gác máy, ngồi rất lâu ở gian ngoài. Sen đứng ở cửa buồng, nghe hết cuộc gọi, không nói gì. Cô chỉ lặng lẽ đi pha cho cha một ấm trà mới, đặt xuống bàn, rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện, ở lại với cha trong đêm ấy lâu hơn mọi khi. Quân đã ngủ. Ngoài sân, chó trong thôn sủa từng hồi rời rạc rồi im. Trên đỉnh núi, không có tiếng rít nào đêm ấy, và chính sự im lặng ấy mới làm Thân khó ngủ nhất: ông không biết sự im lặng có nghĩa là con điểu đã no, hay nó đang ở một nơi nào đó trên sườn phía tây, nơi có một người đàn ông ba mươi mốt tuổi đã không nghe lời can ngăn.
Sáng hôm sau, đội của Khoa lên núi từ lúc sương còn dày.
Thân đi cùng, dẫn đội theo lối mòn lên lán của Nam ở sườn phía tây. Lán trống. Nồi cơm nấu dở còn trên bếp tro lạnh, chiếc ba lô của Nam còn treo trên vách, nhưng khẩu súng không còn ở góc lán, và dấu chân mới in trên đất ẩm dẫn lên cao hơn, về phía những mỏm đá nhìn ra thung, nơi một người cầm súng đi tìm con điểu sẽ chọn để đứng.
Đội lần theo dấu chân lên chừng ba trăm mét nữa thì dấu chân mất hẳn trên mặt đá.
Ở lưng chừng sườn phía tây, trên một phiến đá phẳng nhìn ra thung, đội tìm thấy vật chứng.
Một khẩu súng săn gãy làm đôi, báng súng văng một nơi, nòng súng văng một nơi khác, như bị một sức mạnh rất lớn quật vào đá hoặc bẻ gãy trong một cú va chạm không phải của người. Cạnh khẩu súng, trên mặt đá xám, là một vệt máu dài đã khô sẫm lại trong sương đêm, kéo một đoạn rồi dừng, như ai đó hoặc thứ gì đó đã bị lôi đi hoặc được nhấc bổng lên khỏi mặt đá tại đúng chỗ ấy. Không có vỏ đạn đã bắn. Không có dấu chân chạy. Không có ba lô, không có dao, không có chiếc mũ nào của Nam để lại.
Và không có người đâu cả.
Đội tản ra tìm quanh khu vực ấy suốt buổi sáng, gọi tên Nam qua bộ đàm và bằng miệng, kiểm tra từng khe đá, từng bụi rậm dưới sườn. Chỉ có im lặng đáp lại. Khoa cho người chụp ảnh hiện trường, đo vệt máu, đánh dấu vị trí khẩu súng gãy trên bản đồ, và ghi vào sổ công tác bằng thứ chữ hành chính mà Thân biết là không chứa nổi việc vừa xảy ra: phát hiện súng săn gãy và vệt máu trên đá, chưa tìm thấy người.
Khi đội xuống núi, đã gần trưa. Tin về khẩu súng gãy và vệt máu lan khắp thôn Yên Sơn nhanh như mọi tin dữ trong mấy ngày qua. Cả thôn lặng đi. Đây là người thứ ba mất tích quanh đỉnh Ngọc Hoa, sau hai anh em họ Trần cuối tháng ba. Nhưng hai anh em họ Trần mất tích khi chưa ai biết trên núi có gì. Còn Nam mất tích ngay trong những ngày cả vùng đang canh phòng, đã được nhắc tận mặt, đã hứa sẽ rút xuống, và vẫn tự ý ở lại trên núi một mình trong đêm. Cái chết của anh ta, nếu đó là chết, là lời cảnh báo đắt nhất cho tất cả những ai trong thôn còn nghĩ rằng lệ cấm chỉ là chuyện dọa nhau.
Ở sân trạm kiểm lâm, Khoa tự tay cầm khẩu súng gãy đã được gói trong túi ni lông vật chứng, đưa cho Thân xem trước khi niêm phong gửi lên trên.
Trên báng súng bằng gỗ, còn nguyên ba vết vuốt cào sâu chạy song song, xé qua lớp sơn bóng vào tận thớ gỗ. Thân nhìn những vết vuốt ấy rất lâu. Ông đã nhìn thấy những vết như thế trên thân cây ở hiện trường xác thú, trên cọc chuồng bò ở bìa thôn. Cùng một bàn chân, cùng một khoảng cách, cùng một thứ đã xuống thôn đêm mồng 5 và lên chạc cây ngày mồng 3.
- Từ giờ, cấm hết. Thân nói, giọng trầm và dứt khoát, không chỉ nói với Khoa mà nói với cả những người kiểm lâm và dân thôn đang đứng quanh sân trạm. - Ai lên núi một mình nữa là tôi trói lại. Không nói nhiều lần hai. Người nào cãi, cứ đưa tới gặp tôi.
Không ai trong sân cười. Không ai nói đó là lời dọa của một ông già. Sau khẩu súng gãy và vệt máu trên đá sườn phía tây, cả thôn Yên Sơn đã hiểu lệ cấm lên núi một mình không còn là lời dặn, mà là giới hạn cuối cùng giữa người ở lại trong thôn và người mất tích trên núi.