ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 11: Tấm Bia Ở Đền Thượng
Sáng ngày 6 tháng 4, Thân dậy khi trời còn chưa sáng hẳn. Ông không cần đồng hồ. Suốt ba đêm liền, giấc ngủ của ông chập chờn theo tiếng mõ canh trong…
Nội dung chương
Sáng ngày 6 tháng 4, Thân dậy khi trời còn chưa sáng hẳn.
Ông không cần đồng hồ. Suốt ba đêm liền, giấc ngủ của ông chập chờn theo tiếng mõ canh trong thôn, và đêm qua, sau tiếng rít cuối cùng từ đỉnh núi và tiếng chuông đền ngân đáp lại, ông gần như không chợp mắt. Sen đã dậy trước, đang nhóm bếp ở gian sau. Nghe tiếng cha trở dậy, cô chỉ nói vọng ra một câu, không quay lại.
- Bố đi thật à?
- Đi. Thân nói. - Bố đã khấn với ông nội con đêm qua rồi.
Sen không nói thêm. Cô múc nước ấm vào phích, gói thêm hai nắm cơm muối vừng vào lá chuối, đặt lên bàn cho cha và cho Quân. Quân thì đã tỉnh từ lúc nào, ngồi ở bậc cửa với ống nhòm đeo trước ngực, mắt còn ngái ngủ nhưng chân đã xỏ giày.
Ba ông cháu ăn vội trong gian ngoài. Ngoài sân, sương phủ kín lối đi, đỉnh Ngọc Hoa chìm trong mây xám dày, không nhìn thấy đền Thượng. Chỉ có tiếng chim lác đác ở rặng tre đầu thôn, thưa và dè dặt.
Đường lên đền sáng nay vắng hẳn. Mọi khi vẫn có người bán hương, khách dưới xuôi lên sớm. Hôm nay bậc đá chỉ có ba ông cháu. Quân đi trước, thỉnh thoảng dừng chờ ông ngoại. Thân đi chậm, gậy gõ đều lên bậc đá ướt sương. Càng lên cao, sương càng dày, hơi lạnh thấm qua áo, mùi khói hương cũ lẫn trong mùi đá ẩm.
Bà Mùi đã mở cửa đền từ sớm.
Bà đứng ở sân trước, nhỏ người trong áo nâu sẫm, tay cầm chổi tre quét hoa gạo rụng đêm qua. Thấy ba ông cháu lên, bà chỉ gật đầu, như người đã chờ sẵn từ lúc chuông ngân đêm qua.
- Tôi biết sáng nay ông sẽ lên. Bà nói. - Đêm qua chuông ngân, tôi đã mở hòm sách ra xem lại rồi.
- Bà Mùi, tôi lên không phải để hỏi chuyện cũ cho vui. Thân nói thẳng. - Tôi cần biết con điểu này, theo sách của đền, nó sẽ còn làm gì nữa. Và nó sợ cái gì.
Bà Mùi cắm cây chổi vào góc sân, dẫn hai ông cháu vào hậu cung. Gian hậu cung hẹp, tối, mùi giấy cũ và mùi tro hương quyện vào nhau. Ở góc trong cùng, dưới ban thờ, có một chiếc hòm gỗ đã ngả màu thời gian, khóa bằng một ổ khóa đồng nhỏ. Bà lấy chìa khóa đeo ở thắt lưng, mở hòm, nhấc ra mấy quyển sách chép tay bọc vải, đặt lên chiếc bàn gỗ thấp.
- Đây là Tản Viên tạp lục. Bà nói, tay đặt lên bìa vải đã sờn. - Không phải một quyển, mà là sổ chép của nhiều đời trông đền. Mỗi đời chép thêm một ít. Chuyện núi, chuyện đền, chuyện thú dữ, chuyện người mất trên núi, đều ở trong này cả.
Quân đứng nép sau lưng ông ngoại, mắt nhìn những trang giấy ngả vàng chi chít chữ chép tay. Thân ngồi xuống mép bàn, đưa tay vuốt nhẹ mép giấy, không dám lật mạnh. Giấy đã giòn, có trang chỉ cần chạm mạnh là rách.
Bà Mùi lật tới một phần ở giữa quyển dày nhất. Nét chữ ở phần này đều và nhỏ, mực đã nhạt.
- Phần này chép về Kim Xí. Bà nói. - Ông nghe cho kỹ, vì tôi sẽ chỉ đọc đúng những gì sách chép, không thêm lời của tôi vào.
Bà đọc chậm rãi.
Sách chép rằng con điểu ấy đã ở trên chóp Ngọc Hoa từ rất lâu, lâu hơn cả ngôi đền này. Nó không ở trên núi quanh năm như thú thường. Nó ngủ. Nó ngủ trong hang sâu trên vách đá phía đông, ngủ hàng chục năm, có khi lâu hơn một đời người, thân phủ bụi đá, không ăn, không kêu, như đã chết. Núi yên, rừng yên, dân chân núi có khi quên hẳn nó từng có thật, chỉ còn người trông đền và người giữ nỏ họ Hà là còn nhớ.
- Nó chỉ thức khi nào? Thân hỏi.
- Khi sét đầu mùa đánh trúng chóp Ngọc Hoa. Bà Mùi nói, ngón tay lần theo dòng chữ. - Sách chép đúng một lệ ấy, đời nào cũng chép lại y như vậy. Sấm đầu mùa khác sấm thường. Khi tia sét đầu tiên của năm đánh trúng đỉnh cao nhất, trúng vào chóp đá hoặc cây cổ thụ trên chóp, thì nó mở mắt. Tiếng sét ấy đối với người là tiếng trời, đối với nó là tiếng gọi dậy.
Thân nhớ lại đêm 31 tháng 3. Đêm ấy sấm nổ rất gần, mưa chưa kịp tới, và một cây thông già sau đền đã cháy xém. Bà Mùi đã ghi việc ấy vào sổ đền ngay trong đêm. Lúc đó cả thôn chỉ coi là chuyện thời tiết đầu mùa. Không ai nối tia sét ấy với những xác thú trên chạc cây ba ngày sau.
- Sau khi thức, nó làm gì? Ông hỏi tiếp.
Bà Mùi lật thêm một trang.
- Những ngày đầu, nó yếu. Bà nói. - Ngủ hàng chục năm, thân nó cứng và đói cồn cào, nhưng sức chưa hồi hẳn. Sách chép nó chỉ ăn quanh đỉnh trước. Thú rừng trên cao, rồi trâu bò thả trên sườn núi, những con ở gần hang nhất. Nó ăn để hồi sức, đêm xuống săn, ngày rút về hang ngủ. Nó chưa bay xa, chưa xuống thấp, vì nó còn đang lấy lại sức bay đường dài.
- Như mấy hôm nay. Quân nói nhỏ.
- Đúng như mấy hôm nay. Bà Mùi gật đầu. - Mười hai con thú trên chạc cây, con trâu nhà ông Thịnh, con bò ở bìa thôn đêm qua. Tất cả đều quanh đỉnh, quanh sườn, quanh chân núi gần. Nó chưa xuống đồng bằng.
Bà dừng lại ở đó. Ngón tay bà dừng trên một dòng chữ được chép đậm hơn những dòng khác, bên cạnh có dấu chấm son đã mờ.
Không khí trong hậu cung bỗng lặng hẳn. Ngoài sân, tiếng chổi tre của ai đó không còn, chỉ còn tiếng gió lùa qua mái đền.
- Còn sau đó? Thân hỏi, và ông đã đoán trước câu trả lời sẽ không lành.
- Đến đêm trăng tròn. Bà Mùi nói. - Đêm rằm đầu tiên sau khi nó thức. Khi trăng tròn, nó đã ăn đủ, sức đã hồi, nó sẽ không còn ăn quanh đỉnh nữa. Sách chép nó sẽ bay xuống đồng bằng, xuống những nơi đông người ở, và bắt người hàng loạt. Không phải một người đi rừng lạc, không phải một người chăn trâu ngủ lán. Là người trong làng, trong nhà, ngoài đồng. Các đời trước đều ghi nhận thương vong lớn nhất là từ đêm rằm trở đi. Có đời chép chỉ trong một đêm rằm, nó đã cắp đi mấy người ở mấy thôn khác nhau dưới chân núi. Sau đêm ấy, nó còn quay lại nhiều đêm nữa, cho tới khi bị trừ đi hoặc tự rút về hang ngủ tiếp, mà không ai biết nó ngủ tiếp khi nào.
Thân ngồi im rất lâu.
Ông nghĩ tới thôn Yên Sơn đêm qua, cả thôn thức trắng mà một con bò đang chửa vẫn bị cắp ngay trong chuồng. Ông nghĩ tới lũ trẻ trong thôn, tới Quân sau lưng mình, tới Sen ở nhà dưới chân núi. Nếu đêm qua mới chỉ là một con bò, thì đêm rằm sẽ là gì.
- Rằm tháng này là ngày nào? Ông hỏi, dù trong lòng đã tự tính được.
Bà Mùi đứng dậy, đi tới bức vách bên hông hậu cung, nơi treo một quyển lịch bóc và một tờ lịch âm dương in chung. Bà lấy kính lão đeo lên, lần ngón tay theo từng ô.
- Hôm nay là mồng 6 tháng 4 dương lịch. Bà nói. - Âm lịch là mồng 9 tháng 3. Rằm tháng 3 năm nay rơi vào ngày 12 tháng 4 dương lịch.
Bà quay lại nhìn Thân.
- Còn đúng sáu ngày.
Sáu ngày. Sáu ngày để tìm cách trừ một con điểu mà cả thôn gõ mõ cũng không giữ nổi một con bò.
Quân nắm chặt quai ống nhòm. Cậu bé mười sáu tuổi lần đầu tiên nghe một hạn chót được nói ra rõ ràng như một ngày giỗ.
- Thế sách có chép cách trừ nó không, bà? Quân hỏi. - Người xưa trừ nó bằng cách nào?
Đó cũng là câu hỏi Thân mang theo từ chân núi lên. Ông nhìn bà Mùi, chờ.
Bà Mùi không trả lời ngay. Bà quay lại chiếc hòm, lấy ra quyển cuối cùng trong chồng sách, quyển mỏng nhất và cũng cũ nhất. Bà mở tới những trang cuối.
Những trang cuối đã hỏng nặng.
Mấy tờ giấy cuối quyển bị mối ăn lỗ chỗ, mép giấy mục ra thành bụi khi bà chạm vào. Có đoạn chữ mất hẳn cả dòng, chỉ còn vài nét mực rời rạc không ghép được thành câu. Có trang ẩm mục dính vào nhau, bà không dám tách ra vì tách là rách.
- Sách của đền vốn có chép một đoạn về cách người xưa trừ điểu. Bà nói, giọng tiếc rõ rệt. - Các đời trông đền trước đều biết đoạn ấy nằm ở cuối quyển này. Nhưng từ đời trước tôi, hòm sách đã bị ẩm một mùa mưa lớn, mối lại vào. Khi tôi nhận việc trông đền, mấy trang cuối đã hỏng như thế này rồi. Tôi chỉ đọc được vài dòng rời, không thành cách làm. Có dòng nhắc tới tên đồng, có dòng nhắc tới máu, nhưng thiếu đầu thiếu cuối, không ai dám làm theo mấy dòng rời ấy mà lên núi cả.
Bà lật từng trang hỏng cho Thân xem. Ông cúi sát xuống, cố đọc chữ còn sót. Không đoạn nào đủ dài để thành chỉ dẫn. Không có cự ly, không có cách bắn, không có chỗ nào là chỗ chết. Phần quan trọng nhất, sách đền đã mất.
- Tôi đã giữ hòm sách này mấy chục năm. Bà Mùi nói. - Mỗi năm tôi đều mở ra phơi nắng một lần, nhưng phần đã hỏng thì không cứu lại được nữa. Ông đừng trách sách đền. Sách cũng như người, có phần sống được lâu, có phần mất đi trước.
Thân ngồi thẳng dậy. Ông không trách. Ông chỉ thấy rõ một điều: con đường ở đền Thượng tới đây là hết. Sách đền cho ông biết hạn chót, cho ông biết lệ thức giấc và lệ đêm rằm, nhưng không cho ông cách giết con điểu. Cách ấy, nếu còn tồn tại, chỉ có thể nằm ở một nơi khác.
Nơi mà đêm qua ông đã khấn sẽ mở ra.
Bà Mùi như đọc được ý nghĩ ấy. Bà gấp quyển sách hỏng lại, đặt hai tay lên bìa vải, nhìn Thân bằng ánh mắt của một người đã giữ đền đủ lâu để biết nhà nào giữ vật gì.
- Sách của đền mất trang cuối. Bà nói. - Nhưng sách của nhà ông thì chưa chắc đã mất.
Thân ngẩng lên.
- Bà nói tổ huấn họ Hà. Ông nói.
- Tôi nói đúng thứ ông đang nghĩ trong đầu. Bà Mùi nói. - Cụ tổ nhà ông là người đi cùng người xưa lên núi. Sách đền chép phần núi, còn phần nỏ và tên, các cụ nhà ông giữ riêng trong nhà thờ họ. Nếu trên đời này còn một chỗ chép đủ cách trừ con điểu ấy, thì chỗ ấy không ở trên đền này. Nó ở dưới thôn, trong hòm gỗ lim nhà ông, ngay dưới bàn thờ cha ông.
Gió trên đỉnh đổi hướng. Chuông đền khẽ động, ngân một tiếng rất nhỏ.
Thân đứng dậy. Buổi sáng lên đền đã xong. Chiều nay về nhà, ông sẽ phải làm việc bốn mươi hai năm chưa dám làm lần thứ hai: mở hòm gỗ lim trong nhà thờ họ, đọc lại tổ huấn của cụ tổ Hà Văn Quảng từng chữ một.