ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 16: Gia Trì Lại

Sáng ngày 8 tháng 4, Thân lên đền Thượng một mình. Ông đi từ lúc trời còn tối, theo lối mòn sau nhà mà người hái thuốc vẫn dùng, không qua trạm kiểm lâm,…

Nội dung chương

Sáng ngày 8 tháng 4, Thân lên đền Thượng một mình.

Ông đi từ lúc trời còn tối, theo lối mòn sau nhà mà người hái thuốc vẫn dùng, không qua trạm kiểm lâm, không rẽ nhà ai. Trong tay nải chỉ có một chiếc khăn bông sạch, một con dao nhỏ và chiếc hộp gỗ rỗng bọc vải, thứ ông mang theo để đựng một vật mà ông chưa cầm trong tay bao giờ. Quân còn ngủ. Sen đã dậy nhóm bếp, thấy cha khoác tay nải bước ra sân thì hỏi đi đâu sớm thế. Thân chỉ nói lên đền có việc với bà Mùi, rồi đi thẳng, không quay lại. Ông không muốn nói dối thêm câu nào nữa, và ông cũng không thể nói thật, vì sự thật sáng nay chỉ cần một người biết là đủ nặng.

Đường lên đỉnh buổi sớm vắng tuyệt đối. Từ ngày con điểu thức giấc, khách hành hương đã thưa dần, tới hôm nay thì không còn bóng người nào ngoài đội kiểm lâm đi tuần theo ca. Sương phủ dày trên các bậc đá, tiếng chổi của bà Mùi quét sân đền nghe rõ từ dưới dốc, đều đặn và bình thản như mọi buổi sáng của mấy chục năm qua, như thể trên chóp núi này chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Bà Mùi chờ ông ở cửa hậu cung. Bà không hỏi ông lên xin gì. Bà chỉ nhìn chiếc hộp gỗ bọc vải trong tay ông, gật đầu một cái rất nhẹ, rồi quay vào trong, ra hiệu cho ông theo.

Hậu cung đền Thượng nhỏ và tối, mùi hương trầm cũ ngấm vào gỗ. Bà Mùi quỳ xuống trước một chiếc hòm gỗ thấp kê sát tường, mở nắp, lần tay qua mấy lớp vải dầu và giấy bản đã ố vàng. Tận dưới đáy hòm, bà lấy ra một gói nhỏ bằng bàn tay, gói bằng giấy dầu, buộc dây gai, trên mặt gói có dấu triện mực đã nhòe của đền.

- Tro bùa Núi Tản đấy. Bà nói. - Gói này là gói cuối cùng của đền.

Bà đặt gói tro vào lòng bàn tay, không đưa ngay cho ông.

- Các đời trông đền trước tôi, mỗi lần điểu thức lại dùng một ít, việc làng việc núi dùng một ít. Tới đời tôi chỉ còn ngần này. Bà nói tiếp, giọng vẫn đều như đọc sổ. - Tôi nói rõ để ông biết đường mà liệu: dùng gói này là hết. Đền không còn gì để cho lần sau nữa đâu. Mai kia ông có lên xin thêm, tôi cũng chỉ mở được cái hòm trống này ra cho ông xem thôi.

Thân nhìn gói tro nhỏ xíu nằm trong tay bà già. Cả một cách trừ con điểu ăn thịt người hàng ngàn năm tuổi, phần của đền Thượng giữ, cuối cùng gói lại chỉ còn một nắm tro bằng bàn tay người già. Ông bỗng hiểu vì sao sách đền mất trang cuối lại là chuyện đáng sợ đến thế: những thứ các đời trước để lại cho đời này, dù là sách hay tro, đều đã mòn gần hết, và đời này phải làm xong việc bằng đúng phần còn lại ấy, không có phần thứ hai.

- Tôi biết. Ông nói. - Bà cứ trao cho tôi. Việc còn lại, nhà tôi chịu.

Bà Mùi làm lễ ngay trước ban thờ trong hậu cung. Lễ không có gì lớn: một nén hương, một chén nước sạch, bà khấn ngắn bằng giọng đọc sổ thường ngày, kể tên núi, tên đền, tên người nhận và việc sắp làm, rồi mới đặt gói tro vào chiếc hộp gỗ của ông. Thân lạy ba lạy. Khi ông ngẩng lên, bà đã quay mặt đi lau mắt bằng vạt áo, rất nhanh, như người vừa bị khói hương xộc vào mắt.

Xuống khỏi đền, Thân không ghé trạm. Ông về thẳng nhà, vào lúc Sen đã tới trường, Quân đã đi học, cả nhà vắng tanh. Ông khóa cổng, khóa cửa, rồi vào buồng trong, mở rương dưới bàn thờ họ lấy ống tên ra.

Ba mũi tên đồng ba cạnh nằm trong ống, đen xỉn, nặng tay. Ông đặt chúng lên chiếc khăn trắng trên bàn, ngay trước bàn thờ cha, rồi bắt đầu làm theo tổ huấn, từng việc một, không vội và không sót.

Nước củ nâu ông sắc từ đêm hôm trước, để sẵn trong chiếc nồi đất sau bếp: củ nâu giã nát, sắc hai lần nước, tới khi thứ nước ấy đặc quánh lại, đen như nước hàng, dính vào đầu ngón tay mãi không trôi. Ông đun lại cho nóng, rót ra chiếc bát sành dày. Rồi ông ra sau nhà, nơi con gà trống thiến ông nuôi riêng trong chiếc chuồng nhỏ từ đầu mùa, con gà mà Sen vẫn tưởng cha nuôi để dành việc họ. Ông làm thịt nó nhanh và gọn, như một người đã làm việc này cả đời, hứng lấy một bát máu nhỏ còn nóng. Máu gà trống thiến, tổ huấn chép rõ từng chữ, không được thay bằng gà thường.

Ông mở gói tro bùa trên bàn thờ. Tro mịn, xám nhạt, có mùi trầm và mùi giấy cháy quyện nhau. Ông rắc tro vào bát nước củ nâu, khuấy đều, rồi chế máu gà vào sau cùng, đúng thứ tự tổ huấn dặn. Thứ nước trong bát sành chuyển sang một màu đen ánh đỏ, bề mặt nổi một lớp váng mỏng như mặt nước ao lúc không gió.

Thân cầm từng mũi tên lên, xem lại ba cạnh đồng dưới ánh sáng cửa sổ, rồi ngâm cả ba đầu tên vào bát, để chúng nằm yên trong nước gia trì đúng thời gian một nén hương cháy hết, như tổ huấn chép. Trong lúc chờ, ông không ngồi. Ông đứng trước bàn thờ, nhìn bát nước đen và nén hương đang cháy, và nghĩ về những bàn tay đã làm đúng việc này trước ông: tay cụ tổ Quảng, tay ông nội, tay cha ông năm 1983. Mỗi đời một lần, có đời không bao giờ phải làm lần thứ hai. Ông không biết đời mình thuộc loại nào, nhưng ông biết tro trong bát này là phần cuối cùng, và nếu đời ông làm hỏng, sẽ không còn gì để làm lại từ đầu.

Nén hương cháy tới chân, ông vớt ba đầu tên ra, để ráo trên khăn trắng. Đồng ba cạnh sau khi ngâm không sáng lên, trái lại càng đen sâu hơn, nhưng là cái đen có sức nặng, và khi ông gõ nhẹ móng tay vào cạnh tên, tiếng kêu trong và lạnh khác hẳn tiếng đồng thường.

Nước ngâm còn lại trong bát, ông không đổ đi. Ông rót chắt từng ít một vào một ống tre nhỏ đã chuẩn bị sẵn, thứ ống tre bánh tẻ ông vẫn dùng đựng thuốc bột khi đi rừng. Ông nút miệng ống bằng nút gỗ, trét kín bằng sáp ong, buộc thêm một vòng dây. Ống tre ấy là phần nước gia trì duy nhất còn lại trên đời này sau buổi sáng hôm nay: một lần bôi lại đầu tên ở chặng cuối, nếu cần, và chỉ một lần.

Con gà trống thiến làm thịt xong, ông chặt nhỏ, ướp muối, để vào chiếc niêu đất sau bếp, định bụng tối nay Sen về sẽ nói dối là gà mua ở chợ phiên để nấu cho Quân ăn bồi bổ trước kỳ thi. Nói dối con gái về một con gà, với ông, hóa ra không khó bằng nói thật về ba mũi tên đang nằm trên bàn thờ. Ông rửa sạch tay, thay chiếc áo đã dính mùi nước củ nâu, đốt thêm một nén hương nữa để khói hương át hết những mùi lạ trong nhà, rồi mới mở cổng như một buổi sáng bình thường.

Xong xuôi, ông đặt ba mũi tên trở vào ống, buộc miệng ống bằng một sợi dây đỏ mới. Ông làm việc ấy chậm rãi, thắt nút cẩn thận như thắt cho người khác nhìn, dù trong nhà không có ai ngoài ông và bàn thờ.

Chiều hôm ấy, trên đường mang ống nước tre đi cất ở chỗ kín đáo hơn, Thân ghé qua sân trạm kiểm lâm. Khoa đang đứng xem một người tập bắn ở khoảng sân đất phía sau trạm.

Người ấy là Đức.

Đức mượn ở đâu một cây nỏ thường, loại nỏ săn của dân trong vùng, kê trên vai, đứng ở đầu sân, bắn vào một tấm bia rơm dựng cách chừng ba chục mét ở cuối sân. Thân đứng lại ở cổng, không lên tiếng. Ông xem Đức bắn từng phát một. Mười phát. Cả mười mũi tên thường cắm vào vòng trong của tấm bia, chụm lại thành một túm gọn ở gần tâm, có phát cắm ngay sát phát trước. Cách Đức lên dây, tỳ nỏ, nín hơi và bóp cò đều gọn và không thừa một động tác nào, đúng tác phong người đã qua trường bắn và giữ được thói quen ấy trong đời thường.

Khoa đứng bên cạnh, tay cầm cuốn sổ của trạm, thỉnh thoảng lại ghi một dòng. Anh không nói gì nhiều, nhưng Thân thấy rõ anh đang ghi nhớ khả năng này của Đức, như ghi nhớ một thứ trang bị của đội: trong tay đội, từ hôm nay, có một người bắn nỏ vào hàng giỏi nhất vùng, ngoài chính ông ra.

- Tay anh tốt đấy. Thân nói khi Đức hạ nỏ xuống thay tên.

Đức quay lại, hơi bất ngờ vì không biết ông tới từ lúc nào.

- Xạ thủ biên phòng ngày xưa cũng tập nỏ cho quen tay rừng, ông ạ. Anh đáp. - Lâu không bắn, tôi tập lại để mai lên mỏm khỏi bỡ ngỡ. Nỏ thần của ông chắc nặng hơn cây này nhiều.

- Nặng hơn nhiều. Thân nói. - Và nó không phải thứ muốn bắn là bắn được.

Ông không nói thêm. Ông đi qua sân trạm, về nhà, trong đầu mang theo hình ảnh mười mũi tên chụm trên tấm bia rơm, và ý nghĩ rằng nếu có ngày tay ông không còn giữ nổi cây nỏ của họ Hà, thì ít nhất trong đội này vẫn có một đôi tay khác đủ vững để lên dây cho nó.

Tối hôm ấy, sau bữa cơm, khi Sen và Quân đã vào buồng, Thân ngồi một mình ở gian ngoài rất lâu. Ống tên buộc dây đỏ đặt trong rương dưới bàn thờ, cách ông chỉ mấy bước chân. Ông ngồi nhìn về phía ấy mà không mở ra nữa.

Ba mũi tên đã gia trì xong. Tro bùa của đền đã hết. Nước còn đúng một ống tre. Mọi thứ cần cho một phát bắn trừ điểu, phần chuẩn bị của các đời trước, tới tay ông là hết sạch, không thừa ra chút nào.

Ông biết kể từ buổi sáng nay, một khi đã tự tay gia trì lại tên, ông không còn đường nào để nói với ai, và nói với chính mình, rằng tôi chỉ đi dẫn đường nữa.

Chương khác

Xem thêm