ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 18: Đêm Trước Khi Lên Mỏm

Đêm ngày 8 tháng 4, đội rà soát trang bị lần cuối ở nhà văn hóa thôn Yên Sơn. Nhà văn hóa sáng đèn tới khuya, điều chưa từng có từ ngày thôn có điện, trừ…

Nội dung chương

Đêm ngày 8 tháng 4, đội rà soát trang bị lần cuối ở nhà văn hóa thôn Yên Sơn.

Nhà văn hóa sáng đèn tới khuya, điều chưa từng có từ ngày thôn có điện, trừ những đêm họp khẩn. Trên hai chiếc bàn ghép lại giữa phòng bày tất cả những gì đội sẽ mang lên Mỏm Sáo ngày mai: ba khẩu súng săn, những hộp đạn hoa cải xếp ngay ngắn, đèn pin, dây thừng, dao đi rừng, ba lô, ấm nước, lương khô, thuốc men, bộ đàm và những viên nút tai bằng sáp ong trong túi vải của bà Mùi.

Đức là người kiểm tra. Anh đi dọc bàn, cầm từng thứ lên, xem, gật đầu, đặt xuống đúng chỗ cũ, và đánh dấu vào cuốn sổ tay của mình. Cách làm của anh chậm rãi và khó chịu đối với người quen làm theo thói quen, nhưng không ai trong phòng phàn nàn, vì ngày mai không phải một chuyến đi rừng thường.

- Súng của anh Hợi: nòng sạch, kim hỏa tốt, đạn hai cơ số đủ. Đức đọc to, như đọc biên bản. - Súng của Sinh: tốt, đạn đủ hai cơ số. Súng của tôi: tốt, đạn đủ. Ba khẩu súng săn, đạn hoa cải mang theo đủ hai cơ số, không ai mang thiếu, cũng không ai mang thừa thứ gì ngoài danh sách.

Hợi ngồi vắt chân ở ghế bên, nghe đọc tới tên mình thì cười:

- Đi săn con chim mà làm như đi đánh trận. Tôi đi rừng hai mươi năm, có bao giờ kiểm tra tới lần thứ hai đâu.

- Ngày mai không phải rừng thường. Đức đáp, không ngẩng lên. - Kiểm tra hai lần là lệ của tôi. Ai không thích thì cứ tự chịu phần của mình.

Câu nói ấy, nếu là hôm mới gặp, Hợi đã bật lại. Nhưng tối nay, lạ lùng thay, Hợi chỉ cười xòa cho qua. Thân ngồi ở cuối bàn quan sát tất cả, và ông nhận ra sự thay đổi nhỏ ấy: người thợ săn ồn ào nhất vùng, đêm trước ngày lên mỏm, đã bớt cãi đi một phần. Ông nhớ tới câu Sinh kể ở hiên trạm tối qua, và hiểu rằng Hợi đang giữ hơi sức cho ngày mai, hoặc đang giấu một nỗi sợ mà anh ta không muốn ai nhìn thấy thêm lần nữa.

Tới phần nút tai sáp ong, Đức cầm túi vải lên, phát lại từng viên theo đúng danh sách bà Mùi đã ghi, và yêu cầu từng người cất viên của mình vào túi áo ngực ngay trước mặt cả đội, để mai lên mỏm không ai phải lục tìm trong bóng tối.

- Phần của tôi. Sinh nói nhanh, tay vỗ vào túi áo ngực của mình. - Có rồi. Bà Mùi phát hôm họp, tôi cất kỹ trong túi này từ hôm ấy.

Đức gật đầu, đánh dấu vào sổ.

Thân nghe thấy câu ấy. Ông nghe rất rõ, vì ông ngồi gần Sinh nhất trong phòng. Và ông biết đó là một câu nói dối.

Không, viên sáp mà Sinh nhắc là viên của chính Sinh. Câu nói dối nằm ở chỗ khác: Đức đang kiểm đếm theo đầu người, và trong đầu Đức, cũng như trong sổ của anh, phần của Hợi coi như đã phát và đã nhận từ hôm họp ở nhà văn hóa này. Sinh nói câu có rồi ấy một cách quá nhanh, mắt không nhìn Đức mà nhìn xuống bàn, là đang nói thay cho cả phần của Hợi nữa, đang lấy uy tín của mình che cho bạn một việc mà anh đã định nói riêng từ hôm trước nhưng chưa nói được.

Thân biết hết. Ông là người duy nhất trong phòng, ngoài Sinh, biết viên sáp của Hợi đang nằm trong đám lá khô dưới bụi cây sau ngôi nhà này. Chỉ cần ông mở miệng nói một câu, mọi việc sẽ rõ: buổi kiểm tra sẽ phải dừng lại, phần của Hợi sẽ phải tính lại cho tử tế, và cả đội sẽ biết viên sáp của người thợ săn giỏi nhất đang nằm ở đâu.

Ông không nói.

Sau này, trong rất nhiều đêm mất ngủ, Thân sẽ quay lại đúng khoảnh khắc này và tự hỏi vì sao mình im lặng. Vì thương Sinh không muốn bạn mất mặt trước cả đội? Vì nghĩ một người thợ săn như Hợi, dù không nút tai, vẫn đủ nhanh để nằm xuống khi nghe tiếng cánh? Hay vì trong thâm tâm, ông cũng như Hợi, đã quen coi những lệ nhỏ là chuyện của người yếu vía, và chỉ tới khi phải trả giá mới biết lệ nào cũng viết bằng kinh nghiệm của người chết trước? Đêm hôm ấy, trên ghế cuối bàn ở nhà văn hóa, ông chỉ tự nhủ một ý nghĩ rất ngắn và rất lười biếng: mai lên mỏm, ngồi gần nó, có gì mình nhắc.

Ông im lặng, và Đức đánh dấu vào sổ cạnh tên Hợi một dấu tích gọn gàng. Mọi thứ trang bị của đội, trên giấy tờ, đều đầy đủ.

Kiểm tra xong, khi mọi người tưởng buổi tối đã hết việc, Thân mới đứng dậy.

- Còn một việc nữa. Ông nói. - Việc của nhà tôi, tôi nói một lần cho cả đội nghe, để mai lên đường không ai hỏi lại.

Ông mở chiếc tay nải vẫn để dưới chân ghế từ đầu buổi, lấy ra một vật dài bọc vải dầu, đặt lên bàn và mở lớp vải ra.

Cây nỏ lim bọc đồng của họ Hà nằm đó, đen bóng, nặng nề, những vòng đồng ôm lấy thân gỗ đã lên nước theo bốn đời người cầm. Cả phòng im hẳn. Hợi, người suốt mấy ngày qua vẫn hỏi câu mang nỏ hay không bằng giọng nửa đùa nửa thách, giờ ngồi thẳng dậy, không đùa nữa.

- Tôi mang nỏ theo. Thân nói. - Quyết định này tôi đã định từ hôm gia trì. Nhưng tôi nói rõ: tôi chỉ mang theo đúng một mũi tên.

Ông lấy từ tay nải ra một ống đeo nhỏ, mở nắp, cho mọi người thấy bên trong chỉ có một mũi đồng ba cạnh duy nhất, mũi Cả, đầu tên đen sâu sau lớp gia trì, nằm gọn trong ống.

- Hai mũi còn lại, tôi để ở nhà, khóa trong rương dưới bàn thờ họ. Ông nói tiếp. - Mai là chuyến đi dò đường và thử phục kích bằng súng trước. Chưa phải trận quyết định. Cơ nghiệp của tổ tiên không đem hết lên núi trong một đêm chưa rõ thế nào. Có mũi Cả trong tay tôi, với cây nỏ này, là đủ cho ngày mai.

Đức gật đầu, ghi vào sổ. Sinh gật đầu. Hợi nhìn ống tên một lúc, rồi cũng gật đầu, dù trong mắt anh ta vẫn còn câu hỏi chưa nói ra: một mũi tên, nếu bắn trượt thì sao. Nhưng Hợi không hỏi. Có lẽ chính anh ta cũng hiểu lý do thật nằm dưới lý do nói thành lời, vì nhà anh ta cũng có những thứ không bao giờ đem hết ra khỏi nhà trong một chuyến đi.

Lý do thật, chỉ mình Thân biết. Nó nằm ở năm 1983, khi cha ông mang đúng một mũi tên lên núi và mất cả mũi tên lẫn tính mạng trong một đêm, và họ Hà mất bốn mươi hai năm mới nguôi được phần nào. Thân sợ, bằng một nỗi sợ mà ông không bao giờ nói thành lời với ai: sợ một đêm bất trắc trên mỏm đá, một cú bổ nhào trong sương mù, sẽ cuốn cả ba mũi tên cuối cùng của bốn đời tổ tiên xuống Vực Sương cùng một lúc. Mang một mũi, nếu có mất, nhà họ Hà vẫn còn hai mũi và còn đường tính tiếp. Mang cả ba, nếu mất, là mất hết, và ông sẽ là người thợ săn cuối cùng của họ Hà chôn cơ nghiệp của tổ tiên trong một đêm duy nhất. Ông chọn sự thận trọng ấy, và ông sẽ phải sống với cái giá của nó về sau.

Trang bị chốt xong, nhà văn hóa tắt đèn. Mọi người ra về trong sương đêm, hẹn nhau có mặt ở đầu đường mòn sau núi lúc trời còn tối.

Về tới nhà, Quân đã ngủ. Sen còn thức, ngồi vá lại quai chiếc ba lô cũ của cha ở gian ngoài, dưới ánh đèn dầu. Cô không hỏi cha mang theo những gì. Cô chỉ nhìn chiếc tay nải có ống tên đeo chéo trên vai ông đi qua cửa, và tay cô khựng lại một nhịp trên đường kim, rồi vá tiếp.

Trước khi ngủ, Thân thắp hương lên bàn thờ cha.

Ông khấn rất khẽ, đúng câu khấn mà ông nhớ cha mình từng khấn trước trận săn năm 1983, câu khấn ông nghe được năm ba mươi tuổi khi đứng ngoài cửa buồng nhìn cha thắp hương trong đêm, lúc ấy không hiểu hết, về sau thuộc lòng không sót một chữ:

- Cha đi trước, con theo sau. Núi có lệ của núi, nhà có lệ của nhà. Mai con lên mỏm, nếu việc thành, con về thắp hương tạ cha. Nếu việc không thành, xin cha cho con biết đường mà về với người sống.

Ông cắm nén hương, lạy ba lạy, rồi đứng nhìn di ảnh cha rất lâu. Trong ảnh, Hà Văn Cừ bốn bảy tuổi, trẻ hơn con trai mình trong ảnh rất nhiều, và sẽ trẻ như thế mãi mãi.

Sen đứng ở cửa buồng từ lúc nào, ông không hay. Cô nhìn cha khấn xong, không nói một lời nào, không khóc, không can ngăn, không chúc may mắn. Cô chỉ lặng lẽ đi tới chiếc ba lô đã xếp sẵn của ông ở góc nhà, mở nắp, đặt vào trong một gói thuốc lào cuốn giấy cẩn thận và một chiếc khăn bông khô gấp vuông vắn, thứ khăn cô vẫn dùng để lau mặt cho Quân ngày nó còn bé, rồi đóng nắp ba lô lại như cũ.

Thân nhìn thấy hết, và ông biết đó là cách của con gái ông để nói câu mà cả hai cha con đều không nói thành lời được trong hai ngày qua: cha cứ đi làm việc của cha, còn việc nhà, việc giữ cửa giữ bàn thờ, đã có con ở đây.

Đêm ấy Thân ngủ rất ít, nhưng là một giấc ngủ yên hơn những đêm trước. Trên núi, phía đỉnh Ngọc Hoa, sương đang xuống dày dần quanh các mỏm đá, và trong hang sâu trên vách đông, có một thứ đã sống hàng ngàn năm đang ngủ, không biết rằng dưới chân núi, một ông già bảy mươi hai tuổi vừa thắp hương, buộc lại dây ống tên, và quyết định mang theo đúng một mũi tên để lên gặp nó vào ngày mai.

Chương khác

Xem thêm