ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 20: Đêm Chờ Thứ Nhất
Đêm ngày 9 tháng 4, đêm chờ thứ nhất trên Mỏm Sáo, con điểu không tới. Từ lúc hoàng hôn tắt hẳn, cả đội nằm im trong các khe đá quanh mỏm, mỗi người một…
Nội dung chương
Đêm ngày 9 tháng 4, đêm chờ thứ nhất trên Mỏm Sáo, con điểu không tới.
Từ lúc hoàng hôn tắt hẳn, cả đội nằm im trong các khe đá quanh mỏm, mỗi người một hướng trời, một khẩu súng đã lên đạn, một đôi tai căng ra nghe ngóng. Con trâu mồi đứng giữa mỏm trong vòng thừng của nó, thỉnh thoảng lại cọ sừng vào cọc sắt và thở phì phì vào sương lạnh. Trăng lên muộn, sáng mờ qua lớp sương dày, và miệng Hang Điểu trên vách đông chìm vào bóng tối hoàn toàn từ sớm, đen hơn cả trời đêm quanh nó.
Những giờ đầu tiên, không ai nói một lời nào. Thân nằm ở vị trí quan sát, mắt nhìn khoảng trời phía thung, tai nghe từng tiếng động nhỏ nhất dưới chân núi: tiếng côn trùng đầu mùa, tiếng một con chim đêm giật mình bay khỏi cành, tiếng gió đổi chiều qua khe đá. Ông đếm thời gian bằng nhịp sương: mỗi khi sương tràn qua mặt đá một đợt dày, là thêm một quãng đêm đã qua. Con điểu săn từ hoàng hôn tới rạng sáng, lệ núi chép thế, và những đêm trước, giờ này tiếng rít của nó đã ít nhất một lần vọng xuống các thôn chân núi.
Đêm nay, tới gần nửa đêm, đỉnh Ngọc Hoa vẫn yên tĩnh một cách khác thường.
Tiếng động đầu tiên phá vỡ đêm chờ không đến từ trên trời, mà từ chiếc bộ đàm gói trong vải chống ẩm đặt cạnh tay Thân. Máy rè nhẹ hai tiếng theo đúng lịch hẹn liên lạc, rồi giọng Khoa vang lên, hạ rất thấp như sợ âm thanh ở đầu kia cũng bị nghe thấy, dù anh đang ở tận trạm dưới chân núi.
- Đầu mỏm nghe rõ không? Khoa hỏi. - Có tin ở thôn bên, vừa báo về trạm mười phút trước. Một đàn dê bốn con của hộ dân ở xóm dưới chân núi phía bên kia vừa bị cắp ngay trong chuồng, cửa chuồng bị xé, người nhà chỉ kịp nghe một tiếng rít từ rất xa rồi chạy ra thì chuồng đã trống. Không ai bị thương. Đội dưới này đã tới nơi, xác nhận đúng dấu vết của nó.
Bốn người trong bốn khe đá quanh mỏm cùng nghe thấy tin ấy qua tiếng loa nhỏ của bộ đàm, và không ai cần nói ra điều cả bốn đang cùng nghĩ: đêm nay nó đã ăn ở nơi khác. Mồi của họ buộc giữa mỏm đá này, còn nó thì săn ở đâu tùy ý nó, cách một quả núi, không hẹn, không lệ thuộc vào kế hoạch của người.
Thân cầm máy, đáp ngắn:
- Nghe rõ. Trên này yên tĩnh cả đêm. Nó đã ăn ở bên ấy thì đêm nay chắc không qua mỏm nữa. Đội vẫn giữ vị trí tới sáng theo kế hoạch. Hết.
Ông đặt bộ đàm xuống. Một lúc sau, từ khe đá phía đông, giọng Đức vang lên rất khẽ, chua chát như một câu kết luận trong sổ tay của anh:
- Nó không có lịch hẹn với mồi của ta đâu. Nó săn ở đâu là quyền của nó. Ta ngồi đây tính vị trí, tính lệnh bắn, tính cả đường bay của nó, mà quên mất một điều: trong đầu nó, cái mỏm này với con trâu này chẳng có nghĩa gì hết.
- Im lặng giữ vị trí. Thân nói, nhưng giọng ông không gắt. Ông biết Đức nói đúng, và câu nói đúng ấy cần được nói ra một lần trong đêm chờ đầu tiên này, để cả đội từ mai không còn ai ảo tưởng rằng con người đang chủ động trong cuộc săn này. Người chỉ đang chờ, và thứ được chờ thì không có nghĩa vụ phải tới.
Nửa sau của đêm chờ mới là quãng khó nhất. Khi biết con mồi có thể không tới, giữ cho bốn người đàn ông nằm im trong sương lạnh, không ngủ, không buông súng, không để kỷ luật tan ra theo hơi ấm của giấc ngủ, là một việc khó hơn cả trèo vách đá. Thân hiểu điều đó từ những đêm đi rừng của tuổi trẻ. Ông quyết định làm một việc mà ông đã tránh suốt bốn mươi hai năm: kể chuyện, bằng giọng rất thấp, từ vị trí quan sát của mình, cho ba người thợ săn đang nằm trong các khe đá quanh mỏm, vừa để giữ họ tỉnh táo, vừa vì ông bỗng biết rằng nếu không kể đêm nay, có thể sẽ không còn đêm nào ông kể được nữa.
- Các anh muốn biết vì sao nhà tôi có mộ gió không? Ông bắt đầu. - Thì nghe đây. Tôi kể một lần này thôi. Năm 1983, cũng đầu mùa sấm như bây giờ.
Và Thân kể, lần đầu tiên sau bốn mươi hai năm, trận săn năm ấy, đủ đầu đủ cuối.
Năm ấy ông ba mươi tuổi, còn là thợ săn trẻ khỏe nhất của thôn, và cha ông, Hà Văn Cừ, bốn bảy tuổi, là người giữ nỏ đời thứ ba của họ Hà. Con điểu thức giấc vì sét đầu mùa đánh trúng chóp Ngọc Hoa, cũng ăn quanh đỉnh trước, cũng dọa cả chân núi bằng những xác thú trên chạc cây. Cha ông mang nỏ thần lên núi, và mang theo đúng một mũi tên Cổ Loa, mũi tên duy nhất ông Cừ chọn cho trận ấy. Thân đi theo cha, việc của ông là giữ ống tên dự phòng và giữ đường rút.
- Cha tôi bắn nó ở một mỏm đá phía dưới hang, không phải mỏm này. Thân kể, giọng đều và chậm, như đọc một trang sổ cũ. - Nó bổ xuống nhanh quá. Nhanh hơn mọi thứ tôi từng thấy trong đời, và sau này các anh sẽ hiểu tôi nói nhanh là thế nào. Cha tôi giương nỏ bắn ngay lúc nó lao xuống, không chờ được nó vào gần hơn. Mũi tên đi trúng, nhưng trúng vào góc xiên trên lớp lông thép ở ngực nó. Tên tóe lửa, trượt đi như hòn đá ném vào mái tôn, và rơi xuống vực. Chỉ một cái tích tắc như thế thôi. Rồi nó vòng lại, quắp cha tôi lên ngay trước mắt tôi, bay thẳng về phía hang. Tôi chạy theo tới chân vách, ngẩng đầu nhìn lên, nghe tiếng cha tôi gọi tên tôi nhỏ dần, nhỏ dần trên cao, rồi tắt hẳn. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại cha tôi nữa, dù chỉ là một nắm xương.
Cả mỏm đá im lặng rất lâu sau câu chuyện. Tiếng gió qua khe đá nghe rõ hơn mọi khi. Con trâu mồi đứng giữa mỏm, bất động, như nó cũng đang nghe.
- Từ năm ấy, nhà tôi có một ngôi mộ ở nghĩa địa làng mà trong đó không có gì cả. Thân nói tiếp. - Người ta gọi là mộ gió. Năm 1984 nhà tôi lập nó, để mẹ tôi có chỗ thắp hương, để tôi có chỗ đứng vào ngày giỗ cha. Còn tôi, tôi thề trước bàn thờ rằng không bao giờ cầm nỏ nữa. Bốn mươi hai năm tôi giữ lời thề ấy, đi hái thuốc, dẫn đường, làm mọi việc trên núi này trừ việc săn. Tới năm nay nó quay lại, và các anh thấy đấy, tôi đang nằm ở đây, với cây nỏ của cha tôi và đúng một mũi tên, y như cha tôi năm ấy.
Hợi nằm ở khe đá phía bắc, im lặng hồi lâu, lâu hơn bất cứ ai chờ đợi ở con người ồn ào ấy. Rồi anh ta nói, một câu không giống anh ta chút nào, không khoe khoang, không cười, nhỏ và rõ trong sương đêm:
- Mai nó mà tới, ông cứ để tôi bắn trước. Ông già rồi, để tôi.
Thân không đáp ngay. Ông nghe trong câu nói ấy đủ thứ: sự thương cảm của một người thợ săn trẻ hơn dành cho một ông già, lòng tự trọng của người giỏi nhất vùng không muốn đứng sau ai trong trận này, và có lẽ cả một lời hứa ngầm mà Hợi tự hứa với chính mình sau khi nghe chuyện của nhà họ Hà. Ông chỉ nói một câu ngắn:
- Mai nó tới, ai ở vị trí của người ấy bắn theo lệnh. Không ai bắn thay phần của ai hết, anh Hợi ạ. Lệ trên mỏm này là thế.
Phần còn lại của đêm trôi qua không có gì xảy ra thêm. Con điểu không tới mỏm, không bay qua thung, không cất một tiếng rít nào nữa. Gần sáng, khi sương bắt đầu loãng và những vệt sáng đầu tiên hiện lên sau vách đông, Thân cho đội thu vị trí, buộc lại con trâu, chuẩn bị rút xuống núi nghỉ ngày để tối mai lên lại, theo đúng kế hoạch hai đêm phục kích đã bàn.
Đúng lúc ấy, bộ đàm lại rè tiếng. Khoa gọi lần cuối trong đêm chờ thứ nhất, và giọng anh lần này không còn là giọng báo tin thường lệ. Đó là giọng của một cán bộ đang đọc một văn bản chính thức cho người ở xa nghe từng chữ:
- Ông Thân và cả đội nghe cho rõ. Cấp trên vừa ra hạn chính thức, văn bản đã về tới trạm đêm nay. Đến hết đêm rằm, ngày 12 tháng 4, mà vụ thú dữ ở Ngọc Hoa chưa được xử lý xong, thì đội săn của tỉnh sẽ vào cuộc bằng mọi biện pháp cần thiết. Trong văn bản có ghi cả phương án đặt bẫy lớn trên đường du lịch lên đền Thượng. Tôi nhắc lại: hạn cuối là hết đêm rằm 12 tháng 4. Tôi không giữ được lâu hơn đâu, ông Thân ạ.
Bốn người đàn ông đứng trên Mỏm Sáo, giữa sương sáng đang tan, nhìn nhau mà không ai nói gì. Trên đầu họ, miệng hang trên vách đông đã hiện ra mờ mờ trong nắng sớm, đen và yên tĩnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra trong đêm. Dưới chân núi, một đàn dê bốn con đã mất, và sổ thiệt hại của các thôn quanh Ngọc Hoa, theo cách đếm của Thân từ ngày mồng 3 tới giờ, đã thành mười tám con.
Hạn rằm, từ đêm nay, không còn chỉ là một dòng chép trong sách đền nữa. Nó đã thành hai hạn giống hệt nhau, một hạn của lệ núi mấy trăm năm, một hạn của văn bản hành chính vừa ký đêm nay, cùng chỉ vào một đêm duy nhất: đêm 12 tháng 4, đêm trăng tròn, đêm mà theo sách đền, con điểu sẽ xuống đồng bằng bắt người hàng loạt nếu tới lúc ấy nó vẫn còn sống.
Thân buộc lại ống tên bên hông, nhìn miệng hang lần cuối, rồi ra hiệu cho đội xuống núi.
- Về nghỉ. Ông nói. - Tối mai, lên lại. Từ giờ tới rằm, không còn đêm nào là đêm chờ thường nữa đâu.