ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 21: Đêm Chờ Thứ Hai

Sáng ngày 10 tháng 4, đội quay về trạm kiểm lâm Tản Viên trong sương sớm, người nào cũng ướt lạnh tới tận lưng áo. Đêm chờ thứ nhất chỉ cho lại tin bốn…

Nội dung chương

Sáng ngày 10 tháng 4, đội quay về trạm kiểm lâm Tản Viên trong sương sớm, người nào cũng ướt lạnh tới tận lưng áo.

Đêm chờ thứ nhất chỉ cho lại tin bốn con dê mất ở thôn bên. Thân ngồi ở hiên trạm, tay ôm chén nước nóng mà Khoa đưa, ngủ chập chờn được chừng một giờ trên ghế bố, trong giấc ngủ toàn thấy miệng hang đen trên vách đông và tiếng cha gọi tên mình từ rất cao, nhỏ dần rồi tắt.

Khoa để cả đội nghỉ tới gần trưa mới gọi vào phòng làm việc. Trên bàn là bản đồ Ngọc Hoa đã khoanh đỏ quanh Mỏm Sáo và miệng hang, bên cạnh là sổ trực đêm ghi tin về đàn dê. Anh không nói dài.

- Hạn của cấp trên vẫn là hết đêm rằm, ngày 12 tháng 4. Khoa nói. - Đêm nay là đêm chờ thứ hai theo kế hoạch. Tôi không ép các anh phải liều. Nếu sương dày quá, nếu thấy không giữ được vị trí, rút xuống cũng là một lựa chọn. Nhưng nếu rút, ngày mai ta gần như không còn thời gian bày lại thế khác.

Hợi ngồi ở mép bàn, súng dựng bên chân, cười khẽ một tiếng không vui.

- Rút thì nói làm gì chuyện lên núi. Anh Khoa cứ lo việc giấy tờ của anh. Đêm qua nó không tới mỏm vì nó ăn ở chỗ khác. Đêm nay nó đói lại, nó phải mò về quanh đỉnh thôi. Thú săn mồi nào cũng có đường đi quen của nó.

Đức đang lau khẩu súng của mình ở góc phòng, nghe vậy ngẩng lên.

- Đường đi quen không có nghĩa là nó bước đúng vào cọc trâu của ta. Anh Hợi nói. - Đêm qua anh cũng nói chắc như thế trước khi lên mỏm.

Hợi quay sang, mặt hơi đỏ lên, nhưng Khoa đã giơ tay ngăn lại trước khi câu chuyện rẽ sang hướng khác. Thân đặt chén nước xuống, nói chậm rãi, giọng khàn sau một đêm không ngủ.

- Đêm nay lên lại, lệ vẫn như cũ. Ai ở vị trí của người ấy. Không ai nổ súng khi chưa có lệnh của tôi. Phát đầu tiên phải là phát nỏ, khi nó đã sà xuống hẳn, vào đủ gần. Súng chỉ bắn khi tôi ra hiệu, hoặc khi nó đã quắp trúng người và không còn cách nào khác. Nghe rõ chưa?

Ba người cùng gật đầu, nhưng Thân nhìn thấy trong mắt Hợi một thứ không phải gật đầu. Đó là sự sốt ruột của người quen được gọi là tay săn giỏi nhất vùng, nay phải nằm im nghe một ông già bảy mươi hai tuổi ra lệnh. Ông không trách. Ông chỉ sợ nó, vì trên núi, sốt ruột còn nguy hiểm hơn cả sợ hãi.

Buổi trưa, đội ăn cơm sớm. Sinh lặng lẽ kiểm tra từng viên đạn hoa cải. Đức kiểm tra trang bị hai lượt: đèn pin, dây thừng, dao, bộ đàm, túi cứu thương, rồi đếm lại từng viên sáp ong của mình và gật đầu với Thân. Hợi vỗ túi áo ngực, cười.

- Của tôi cũng đủ. Đủ nằm trong túi.

Thân không nói gì thêm. Ông đã biết Hợi không coi viên sáp ra gì từ hôm ở nhà văn hóa. Đêm nay ông sẽ phát lại và dặn lại lần nữa.

Đầu giờ chiều, đội lên Mỏm Sáo lần thứ hai.

Đường lên ban ngày khô hơn đêm qua, nhưng sương trên cao không tan hết. Từ lưng chừng vách, nhìn xuống thung chỉ thấy một biển trắng đục nuốt dần những rặng cây. Con trâu mồi thỉnh thoảng đứng lại thở mạnh và ngoảnh đầu về phía miệng hang, phải hai người kéo mới chịu đi tiếp. Thân đi sau cùng, nỏ thần bọc vải dầu đeo sau lưng, ống tên bên hông chỉ có đúng một mũi Cả, nhẹ đến mức ông luôn có cảm giác ống tên trống rỗng. Hai mũi Hai và Ba vẫn khóa trong rương ở nhà thờ họ.

Tới mỏm vào lúc xế chiều, mọi việc được làm lại từ đầu. Cọc sắt giữa mỏm được đóng sâu thêm. Con trâu được buộc lại, lần này Đức tự tay thắt nút, kéo thử hai lần, vòng thêm một lượt dây rồi mới gật đầu. Anh chia lại vị trí nấp: Hợi vào sâu trong khe đá phía bắc thêm nửa mét, nơi có tảng đá chìa ra che phần đầu; Sinh ở khe phía đông, Đức ở khe phía tây gần đường rút, Thân ở vị trí quan sát chính giữa nhìn ra thung và chếch về miệng hang.

- Vị trí của anh Hợi là vị trí khuất nhất. Đức nói khi dẫn Hợi tới khe đá. - Nằm ở đây, dù nó vòng qua phía bắc cũng không quơ trúng ngay được. Nhưng anh phải nằm im. Tuyệt đối im, tới khi nghe lệnh.

Hợi nhìn khe đá chật, cười nhạt.

- Cậu xếp cho tôi như xếp lính mới đi trực gác. Tôi đi rừng từ khi cậu còn chưa biết buộc dây giày. Chim nó xuống thì phải có người bắn ngay, chờ lệnh tới lệnh lui, nó ăn xong con trâu nó bay mất, cả đội lại ngồi nhìn nhau như đêm qua à?

- Đêm qua nó không tới. Đức đáp, giọng vẫn đều. - Không phải vì ta không bắn. Còn nếu đêm nay nó tới mà anh bắn sớm, nó biết có người, nó không xuống hẳn nữa. Lúc ấy nỏ của ông Thân không có góc bắn, súng của ta thì anh biết rồi, nghe kể bao nhiêu cũng không bằng tự mắt thấy. Kỷ luật không phải để làm đẹp sổ. Kỷ luật để giữ cho phát bắn đầu tiên là phát có nghĩa.

Hợi định nói thêm, nhưng bắt gặp ánh mắt của Thân đang nhìn mình từ vị trí quan sát, anh ta tặc lưỡi rồi nằm thử xuống khe đá, vai u chạm vào đá lạnh.

- Rồi. Nằm thì nằm. Anh ta nói. - Nhưng tôi nói trước, nếu nó sà xuống ngay trên đầu mà các người còn chờ, thì đừng trách tôi.

Thân bước tới, đứng ở mép khe, nói đủ cho cả ba người cùng nghe, không to, không nhỏ.

- Tôi nhắc lại lần cuối, ngay tại mỏm này. Ai bắn trước lệnh, người ấy phá trận của cả đội. Anh Hợi, anh giỏi, tôi chưa bao giờ nói khác. Nhưng đêm nay không phải đêm anh đi săn một mình. Đêm nay là bốn người nằm trên một mặt đá, và con vật trên trời nó chỉ cần biết có một người là đủ.

Hợi không đáp. Anh ta quay mặt vào vách đá, nhưng Thân thấy vai anh ta hạ xuống một chút, như một người nuốt lại câu cãi.

Hoàng hôn xuống nhanh hơn đêm trước.

Chưa tối hẳn, sương đã đổ xuống mỏm thành từng đợt dày đặc, không phải sương mỏng trôi qua mặt đá như đêm chờ thứ nhất, mà là sương đứng yên, đặc quánh, phủ kín cả mỏm trong một màu trắng xám. Tầm nhìn rút xuống rất nhanh. Từ vị trí của Thân, con trâu giữa mỏm chỉ còn là một khối đen lờ mờ cách chừng hai chục mét, lúc rõ lúc mất sau mỗi đợt sương tràn qua. Miệng hang trên vách đông biến mất hoàn toàn trước cả khi trời tối. Đèn pin được lệnh chỉ bật khi thật cần; khi Đức thử bật lên một lần để kiểm tra dây buộc, ánh sáng chỉ thành một quầng đục tròn trước mặt, không xuyên nổi qua ba chục mét sương.

- Tầm này dưới ba mươi mét. Đức nói khẽ qua bộ đàm nội bộ để ở mức âm nhỏ nhất. - Có khi còn ít hơn. Nó tới sát ta mới biết.

- Thì giữ tai mà nghe. Thân đáp. - Mắt không dùng được thì tai phải thay mắt. Nghe tiếng gió đổi, nghe chim rừng im, nghe trâu thở. Nó tới bao giờ cũng có một khoảng im lặng đi trước.

Ông lấy túi vải nhỏ trong ba lô, đi tới từng vị trí, phát lại nút tai sáp ong cho từng người. Viên sáp của bà Mùi nấu theo lệ cũ, màu vàng sậm, có mùi mật ong rừng rất nhẹ. Tới Sinh, anh nhận bằng hai tay, gật đầu.

- Nghe tiếng gió lạ là cháu nhét ngay. Sinh nói.

Tới Đức, anh đã tự lấy phần của mình ra cầm sẵn.

- Cháu nhớ. Anh nói.

Tới Hợi, Thân dừng lại lâu hơn một chút. Ông chìa viên sáp ra, nhìn thẳng vào mắt người thợ săn đang nằm trong khe đá phía bắc.

- Anh Hợi. Cái này không phải mê tín. Năm xưa người trông đền đã nấu nó vì tiếng kêu của nó. Nghe trực tiếp ở gần mà không nút tai, màng tai chảy máu, đầu choáng, lúc cần nghe lệnh cũng không nghe được nữa. Anh cầm lấy. Khi tôi ra hiệu, hay khi nghe tiếng rít đầu tiên từ xa, nhét vào ngay. Cả hai tai.

Hợi cầm viên sáp, vê vê giữa ngón tay như người ta vê một viên thuốc, rồi, ngay trước mắt Thân, anh ta bỏ nó vào túi áo ngực và vỗ nhẹ lên túi.

- Tôi cầm rồi. Anh ta nói. - Ông cứ yên tâm giữ vị trí của ông đi. Tai tôi thính hơn tai mấy cậu lính này nhiều. Bịt lại, nó tới sau lưng cũng không biết đường mà tránh.

Thân đứng im một giây. Ông biết tính Hợi: càng ép trước mặt hai người trẻ, anh ta càng làm ngược để giữ thể diện. Ông chỉ nói một câu cuối, rất khẽ.

- Khi nó kêu, đừng có ân hận.

Rồi ông quay về vị trí, nằm xuống mặt đá lạnh, kéo nỏ vào sát người. Ông nằm nghe sương rơi trên mặt đá, nghe con trâu giữa mỏm thở từng nhịp nặng, nghe tiếng Đức kiểm tra lại khóa súng rất khẽ ở phía tây.

Thời gian trôi chậm trong sương đặc. Màu trắng xám quanh mỏm sẫm dần thành đen nhờ nhờ. Đèn pin tắt hết. Bộ đàm im. Bốn người lại thành bốn cái bóng quanh một con trâu mồi, như đêm trước, nhưng đêm nay sương dày hơn, lạnh hơn, và sự sốt ruột của Hợi thì Thân nghe được qua tiếng thở và tiếng báng súng chạm khẽ vào đá mỗi khi anh ta đổi thế nằm ở khe phía bắc.

Khoảng gần 19 giờ, con trâu mồi bỗng ngẩng phắt đầu lên.

Nó không rống ngay. Nó đứng sững giữa mỏm, cổ căng ra, hai tai vểnh về phía khoảng sương phía trên thung, toàn thân run lên từng đợt như bị ai xối nước lạnh. Rồi nó gầm lên một tiếng dữ dội, không giống tiếng trâu gọi bầy, mà là tiếng của một con vật đã ngửi thấy thứ ăn thịt mình đang ở rất gần. Nó giãy mạnh, bốn chân cào trên mặt đá, đầu hất liên hồi về phía cọc sắt. Sợi dây buộc kêu căng, rồi đứt mất một nửa, những sợi thừng tưa ra như bị dao cắt một nhát không trọn.

Con trâu không chạy. Nó đứng nguyên tại chỗ, mắt mở trừng trừng nhìn vào màn sương phía trên thung, nơi không có gì cả ngoài màu trắng đặc và bóng tối đang đổ xuống, và gầm lên lần thứ hai, dài hơn, khản hơn.

Từ vị trí quan sát, Thân giơ tay lên trong bóng tối, ra hiệu mà ông biết chỉ Sinh và Đức ở gần mới có thể lờ mờ thấy được: giữ nguyên vị trí, không một tiếng động.

Ông nằm im, tay siết nhẹ lên thân nỏ, và nghe tim mình đập chậm lại thành từng nhịp rõ ràng trong lồng ngực, như bốn mươi hai năm trước, trong một đêm sương khác, khi ông còn là người giữ ống tên đứng sau lưng cha mình.

Chương khác

Xem thêm