Đáy hầm - Chương 2: Lên Cồn Lần Đầu

Sương đã tưởng ngày đầu tiên sẽ lạnh. Nhưng nắng tháng Giêng miền Tây gay gắt hơn cô nghĩ. Cô đứng trên bến đò An Khánh, tay xách ba lô, mắt nheo lại…

Nội dung chương

Sương đã tưởng ngày đầu tiên sẽ lạnh. Nhưng nắng tháng Giêng miền Tây gay gắt hơn cô nghĩ. Cô đứng trên bến đò An Khánh, tay xách ba lô, mắt nheo lại nhìn mặt sông loang loáng. Chị Hoa đứng bên cạnh, đội nón lá, tay cầm cái túi vải đựng đồ cúng.

Bác Sáu Đò đã đợi sẵn dưới bến. Tắc ráng nhỏ, máy dầu cũ, sơn xanh bong tróc. Bác Sáu sáu mươi tuổi, da đen gió, mặc áo sơ mi cộc tay. Bác nhìn Sương từ đầu đến chân: “Cô là cháu ông Đạo Trầu hả? ” “Dạ. ” “Cô đi coi cồn thiệt hả?

” “Dạ. Khảo sát di tích. ” Bác Sáu gật, không hỏi thêm. Bác leo xuống tắc ráng, giữ máy cho hai người phụ nữ lên. Sương ngồi mũi thuyền, mặt hướng ra sông. Chị Hoa ngồi giữa, cặp vải để dưới chân. Bác Sáu nổ máy. Tắc ráng rời bến, chạy chậm qua những lục bình tím dày đặc ven bờ.

Sương nhìn xuống nước - màu nâu đục, sủi bọt nhẹ sau đuôi máy. Mùi dầu + mùi phù sa + mùi cỏ mục. Chị Hoa nói lớn: “Em không lạnh hả? ” Sương lắc: “Mặc đủ rồi chị. Nắng vậy lạnh gì. ” Chị Hoa nhìn về phía cồn đang dần lộ ra sau khúc sông: “Lần cuối em qua đây năm bao nhiêu?

” “12 tuổi. 2001. 19 năm rồi. ” Chị Hoa gật: “Chị qua lần cuối hồi đám 49 ngày ông Đạo - năm 1991. Chị 1 tuổi. Chị không nhớ. ” Bác Sáu Đò nghe, không nói. Bác chỉ tay sang hướng đông bắc: “Cồn Bồ Đề đó cô. Tầm 12 phút nữa tới.

” Sương nhìn theo tay bác. Một dải đất xanh nổi giữa dòng sông. Cây cau vươn cao, phía sau là nóc cốc gạch đỏ thấp thoáng. Cồn không rộng - nhìn từ xa chỉ như một cái ụ đất nằm giữa hai nhánh Hàm Luông. Nước hai bên, mỗi bên một dòng.

Tắc ráng vào gần. Sương thấy bến cồn: một cầu gỗ nhỏ đã mục, nhiều chỗ gãy. Không có tàu nào đậu. Bác Sáu tắt máy, thuyền trôi chầm chậm vào bến. Sương nhảy xuống nước cạn, nước ngập đến mắt cá. Chị Hoa theo sau. Bác Sáu buộc dây vào cọc gỗ: “Tôi đợi tới chiều.

Cô báo tôi giờ về. ” Chị Hoa: “Cảm ơn bác. ” Sương đứng trên mặt cồn, nhìn quanh. Đất màu nâu pha cát, không phải đất thịt. Những hàng cau già đứng im, tàu lá lòa xòa. Gió thổi từ sông vào, mát, mang theo mùi dừa và vị mặn nhẹ của phù sa.

Chị Hoa bước trước: “Đi vòng nha em. Chị chỉ đường. ” Hai chị em đi vòng cồn theo chiều kim đồng hồ. Đầu tiên là vườn cau. Cau già, thân xám, lá vàng, dưới gốc có nhiều buồng cau khô không ai hái. Chị Hoa chỉ: “Hồi xưa tín đồ ăn trầu nhai cau ở đây.

Ông Đạo thích cau bánh tẻ, hông già hông non. ” Sương gật, lấy điện thoại chụp. Cô ghi: “cau không chăm, ~60 cây, tuổi trung bình 50-60. ” Rời vườn cau, hai người ra sân Trầu. Sương đứng lại. Sân vuông, lát gạch tàu cũ. Gạch màu đỏ nâu cũ kỹ, phủ rêu xanh dày 2-3 cm ở những chỗ ít đi.

Những viên gạch đặt theo hàng thẳng, mép vuông vức. Sương ước lượng: 20 x 20 mét. Khoảng 400 mét vuông. Cô đặt ba lô xuống, lấy thước laser. Đo. Chép vào sổ: “sân Trầu: 19. 8 x 19. 8 mét = ~392 m². 196 viên gạch chính + 28 viên viền = tổng 224.

Gạch tàu Mỹ Tho, khắc tên xưởng. ” Chị Hoa đứng nhìn: “Em đo làm chi vậy? ” “Khảo sát định giá. Còn tính xem bao nhiêu gạch cần thay. ” Chị Hoa gật: “Hồi nhỏ chị chạy chơi trên này. Nhớ cái sân này rộng lắm, giờ thấy nhỏ hơn.

” Sương gấp thước, nhìn về Cốc Tổ. Ngôi cốc gạch đỏ, mái cong kiểu lai Cao Đài lai chùa Nam Bộ. Phía sau có tháp ngắn 3 tầng. Cửa gỗ lim đóng kín. Sương bước lên bậc tam cấp, đẩy cửa. Cánh cửa kêu kẹt một tiếng dài, rè, như có gió rít khô bên trong.

Bên trong tối. Sương đeo kính, mở đèn pin điện thoại. Một bàn thờ trống ở cuối, làm bằng gỗ dầu. Trên bàn có một cái chân đèn bằng đồng, không đèn. Bốn cột gỗ lim đen bóng, to bằng bắp tay. Sàn lát gạch tàu, cùng loại với sân Trầu, nối liền thành một mặt phẳng.

Cô ghi: “Cốc Tổ: 4. 0 x 4. 2 m bên trong. 4 cột gỗ lim. Bàn thờ gỗ dầu. Trần thấp ~3. 2 m. Mái ngói âm dương. ” Chị Hoa không vào. Chị ngồi trên bậc tam cấp, nhìn ra sân. Sương rời Cốc Tổ, đi vòng ra sau. Mười hai cây bồ đề trồng theo vòng tròn, cây lớn nhất cao khoảng 5 mét, gốc to 80 cm đường kính.

Cây nhỏ hơn, mới cỡ 3 mét. Sương ghi: “12 cây bồ đề - ông Đạo trồng 12 cây tượng 12 tháng âm? ” - seed trong đầu. Chị Hoa từ xa nói: “Ông nội em trồng mỗi tháng một cây. Lễ rằm nào cũng có cây để nhớ. ” Sương nhìn vòng tròn cây, nhẩm đếm.

Đúng 12. Rời vòng tròn bồ đề, sân sau lộ ra. Bảy ngôi mộ giả, mỗi mộ 1. 5 x 2 mét, cao 30 cm so với mặt đất, phủ đất nâu. Mỗi mộ có một tấm bia đá xanh, kích thước 30 x 50 cm. Sương bước đến bia đầu tiên. Bia khắc: Nhất Tịnh Lên Niết Bàn ngày 15 tháng 3 năm Quý Sửu Tuổi đạo: 11 Sương đọc chậm.

Rằm tháng 3 Quý Sửu. Cô trừ nhanh: 1973. 17 tháng 4 dương. Đây là bảy người đã tu theo Đạo Bồ Đề Tây Nam. Không có tên thật. Không có ảnh.

Nhất Tịnh - 15/3/QT - Tuổi đạo 11

Nhị Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 9

Tam Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 7

Tứ Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 8

Ngũ Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 10

Lục Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 6

Thất Tịnh - cùng ngày - Tuổi đạo 11

Sương chép xong, nhìn lên bia cuối. Thất Tịnh. Cô cúi xuống, lật nhẹ phần rêu ở góc bia. Chữ thêm phía dưới, khắc mờ: “Không có xác, thể lên hết. ” Cô ghi vào sổ: “dòng chữ thêm: 'không có xác' - trùng với giáo lý ông Đạo: đệ tử đã Lên Niết Bàn, không có xác chôn.

” Chị Hoa đã đứng sau lưng: “Hồi nhỏ chị sợ mấy cái mộ này lắm. Tới giờ cũng sợ. ” Sương không quay lại: “Đây là mộ giả chị ơi. Giống bia tưởng niệm. ” “Ừ. Nhưng ai cũng gọi là mộ. ” Sương đứng dậy, nhìn vườn dừa nhỏ phía tây cồn.

Khoảng 30 cây dừa xiêm và dừa ta. Quả rụng đầy gốc, mục nát, mọc mầm. Sương ghi: “vườn dừa, không thu hoạch lâu. ” Chị Hoa nắm tay Sương: “Vô trong Cốc Tổ ngồi tí đi em. Hết trưa rồi. ” Sương gật. Hai chị em quay lại Cốc Tổ.

Chị Hoa ngồi ngoài hiên. Sương vào trong một mình. Cô đứng giữa cốc. Bàn thờ trống trước mặt. Bốn cột gỗ lim quanh người. Trần thấp. Sương đặt tay lên gạch tàu sàn cốc. Gạch lạnh, ráp, có chỗ ẩm nhẹ. Cô khum tay, ngồi xuống, tay vẫn chạm gạch.

Một cảm giác mơ hồ ập đến. Mùi giấy cháy. Tiếng tía khóc cụt một lần. Không phải ký ức rõ ràng, chỉ là vệt mờ, như ảnh cũ bị nhòe nước. Cô thấy một xấp giấy cháy trên sân Trầu, tía cô ngồi thụp cạnh đó, tay che mặt. Cô lúc đó 12 tuổi, đứng ở bậc cửa này, nhìn ra.

Sương thở ra. Đứng dậy. Cô lấy thước laser đo cột: cao 3. 2 mét. Ghi note: “độ cao trần. Cốc kiểu cũ. ” Một con dơi nhỏ từ tháp ngắn sau lưng lao ra, xoạt qua vai Sương rồi bay ra cửa. Sương không giật mình. Cô nhìn con dơi mất hút trong nắng.

Cô ra hiên. Chị Hoa ngồi trên bậc gạch, tay cầm cái nón lá quạt: “Em vô trong có thấy gì không? ” “Bụi. Bàn thờ trống. Không có gì lạ. ” Chị Hoa nhìn cô: “Hồi 1992 lễ 49 ngày ổng, chị nghe người ta nói có cái gì đó dưới sàn nhưng không ai dám đào.

” Sương ghi nhanh vào sổ: “nghe đồn: vật dưới sàn cốc - cần đo dội âm. ” “Đào sao được. Đào là phá di tích. Em sẽ đo dội âm trước. Nếu có khoảng rỗng dưới sàn, em báo Sở. Sở quyết định cho đào hay không. ” Chị Hoa gật: “Ờ.

Em làm theo nguyên tắc đi. ” Im một lát. Chị Hoa hỏi: “Chị hỏi thiệt em. Em có sợ không? ” Sương đưa mắt nhìn quanh cốc. Cây bồ đề, mộ giả, Cốc Tổ, vườn cau. Cô nói: “Em là KTS. Em xuống bao nhiêu di tích lạ. Em không sợ.

” Chị Hoa nhìn cô lâu, không nói.

4 giờ chiều. Bác Sáu Đò đã chở tắc ráng vào bến. Chị Hoa đứng trước nhà nhỏ, tay cầm cặp vải.

“Em ở lại thiệt hả?”

“Dạ. Có điện thoại. Có pin sạc dự phòng. Có dụng cụ. Hồi em đi công tác một tuần trong Cà Mau cũng ở vậy.”

Bác Sáu đứng dưới tắc ráng: “Cô có chắc ở lại một mình không cô.”

“Chắc bác.”

Bác Sáu nhìn cô, rồi nhìn cồn: “Đêm gió chướng mạnh. Cô đóng cửa kỹ. Hông phải lo, hông có ai lên cồn đâu.”

Chị Hoa: “Em gọi chị nếu có gì.”

Sương gật. Tắc ráng rời bến. Máy nổ, thuyền xoay đầu. Chị Hoa vẫy tay. Sương đứng nhìn cho đến khi thuyền khuất sau khúc sông.

Cô quay vào nhà nhỏ. Căn nhà xây năm 1980, 1 phòng + 1 bếp nhỏ + 1 hiên. Sàn gạch bông, tường quét vôi đã ố. Cô dọn giường: trải drap, kê gối. Bếp không gas, chỉ có bếp dầu hỏa + nồi nhôm cũ. Cô kiểm tra thùng gạo còn lưng, mì gói trong kệ. Trên tường có một cái tủ gỗ nhỏ.

Cô mở tủ. Trong tủ có một bức ảnh đen trắng cũ, đặt khung kính. Ông Đạo Trầu mặc áo bà ba trắng, đứng trước Cốc Tổ. Năm 1965, chú thích phía sau khung. Mặt ông nghiêm trầm, mắt nhìn thẳng, tay cầm xâu trầu. Bên cạnh là bà Tư Triệu - lúc đó chừng 29 tuổi, mặc áo bà ba đen, cũng nhìn nghiêm.

Cả hai không cười.

Sương nhìn ảnh 2 phút. Cô không biết mình có cảm xúc gì. Chỉ thấy hai con người đó lạ. Không giống người thân trong trí nhớ của cô. Cô cất ảnh trở vào tủ, đóng lại.

Cô nấu mì gói. Cho thêm mấy lát dừa khô chị Hoa gửi. Ăn tối lúc 6 giờ, trời vừa tối. Ngồi một mình trong nhà nhỏ, nghe tiếng gió chướng thổi từ sông vào lùa qua khe cửa.

Cô mở sổ tay, viết note ngày đầu:

“03/02/2020. Đo đạc sơ bộ Cốc Tổ + sân Trầu xong. Sân 392 m², gạch tàu còn tốt. Cốc 4x4 m sàn, cột lim. 7 bia mộ giả ghi pháp danh, không tên thật. 12 cây bồ đề trồng vòng tròn. Vườn cau già + 30 cây dừa hoang.”

“Chưa tìm thấy nhật ký ông Đạo hoặc tài liệu. Phải hỏi Tư Triệu ngày mai.”

“Nghe đồn từ Chị Hoa: 'có gì dưới sàn cốc'. Ngày mai đo dội âm.”

“Đêm đầu - không có tiếng lạ. Chỉ gió chướng. Ổn.”

Cô gấp sổ. Đi ngủ lúc 9 giờ. Tắt đèn.

Nằm trong bóng tối, nghe tiếng gió rít nhẹ qua khe cửa. Cô nhắm mắt. 19 năm trước cô đã ở đây. Tay cha kéo tay cô ra bến đò. Mùi giấy cháy. Tiếng khóc cụt.

Sương trở mình.

Ngày mai là khởi công. Tuấn sẽ tới. Cô cần gặp Tư Triệu trước.

Cô ngủ thiếp lúc nào không biết.

Chương khác

Xem thêm