Đáy hầm - Chương 4: Thợ Tuấn
Sáu giờ sáng, tắc ráng của Bác Sáu Đò cập bến cồn. Mặt sông còn phủ một lớp sương mỏng. Sương đứng ở bờ, mặc áo khoác xám, tay ghi sổ. Trên thuyền, ba…
Nội dung chương
Sáu giờ sáng, tắc ráng của Bác Sáu Đò cập bến cồn. Mặt sông còn phủ một lớp sương mỏng. Sương đứng ở bờ, mặc áo khoác xám, tay ghi sổ. Trên thuyền, ba người đàn ông bước xuống đất. Người đầu tiên trạc ba mươi lăm, cao, vai rộng. Anh ta đeo khăn rằn đỏ quấn quanh trán, áo bà ba xám, quần đùi kaki, chân đi dép cao su.
Anh bước lên bờ, khoanh tay trước ngực, cúi đầu chào Sương kiểu Khmer. Rồi đổi tay ra bắt tay cô, nói giọng pha Trà Vinh:
Chào cô Sương. Em là Tuấn.
Chào anh Tuấn. Em hỏi luôn cho gọn - Sương nhìn thẳng vào anh ta - Anh có tin chuyện ma không?
Tuấn cười nhỏ. Anh đưa mắt nhìn quanh cồn, rồi quay lại.
Em là người làm nhà thờ Phật giáo Trà Vinh năm năm. Em không tin ma. Em chỉ tôn trọng vong.
Sương nói tiếp:
Em hỏi vì đêm qua em nghe tiếng dép lê trên sân Trầu. Em không sợ. Em hỏi để anh biết nếu anh hoặc hai em đây nghe gì cứ báo em.
Cảm ơn cô. Bọn em sẽ báo.
Hai người phía sau Tuấn bước lên. Một người tên Sơn, hai mươi tám tuổi, mặc áo cộc, da ngăm. Một người nữa tên Đực, ba mươi mốt tuổi, tóc húi cua, mặc áo sọc xanh. Cả hai đều ít nói, chào Sương bằng cái gật đầu.
Sương dẫn họ lên sân Trầu. Cô đứng giữa khoảng trống, tay chỉ:
Anh Tuấn, em muốn dọn rêu sân Trầu trước. Mỗi viên gạch tàu rêu dày khoảng hai ba phân. Bóc rêu nhẹ, không cọ mạnh. Sàn cốc bên trong dọn bụi, không động bàn thờ. Bảy mộ giả sân sau không động hôm nay.
Tuấn gật:
Dạ.
Anh quay về phía Sơn và Đực, ra dấu. Cả ba xách đồ từ thuyền lên: vài cái bay, bàn chải sắt, chổi quét, thùng nhựa. Mỗi người một cái nón lá cũ. Tuấn mang thêm một túi vải nhỏ treo vai.
Sơn và Đực ngồi xuống góc sân. Họ đổ nước ra thùng, cầm bàn chải, bắt đầu cọ rêu trên những viên gạch tàu đầu tiên. Tiếng chải đều, chậm, nghe như tiếng nước chảy qua khe đá.
Tuấn vào trong Cốc Tổ.
Sương ngồi ngoài hiên, mở laptop. Cô soạn đơn xin phép Sở Văn hóa và Thông tin. Khoang rỗng dưới sàn cốc vẫn là một câu hỏi chính của cô. Hơn thế, cô nhìn xuống cuối sân Trầu, chỗ bảy bia mộ giả đứng im dưới nắng. Bà Tư Triệu còn giấu gì nữa?
Một tiếng sau, mặt trời lên cao hơn. Sơn và Đực đã cọ gần hết nửa sân phía đông. Gạch tàu lộ ra màu đỏ sẫm dưới lớp rêu bong. Sương đứng dậy kiểm tra: họ làm đúng kỹ thuật, rêu được bóc nguyên mảng, không cào xước mặt gạch.
Lúc chín giờ, Tuấn ra khỏi Cốc Tổ. Anh đã dọn bụi trong đó xong. Bây giờ anh ngồi xổm ở góc nam sân Trầu, ngưng làm việc. Anh nhìn xuống mấy viên gạch dưới chân mình, tay sờ vào một viên rồi sang viên khác.
Cô Sương ơi cô qua xem.
Sương đến. Tuấn chỉ tay vào một ô vuông cỡ bốn mét chiều ngang, bốn mét chiều dọc, nằm sát góc nam sân Trầu. Trong ô đó, bảy viên gạch tàu nằm thành một cụm, không dính rêu nhiều.
Cô thấy gạch tàu Mỹ Tho hông cô? - Tuấn nói - Mỗi viên xưởng có khắc tên xưởng bên dưới. Đây - “Xưởng Sáu Lý” đây. “Xưởng Tám Đậu” đây. Mỗi xưởng có font riêng. Đây nè, em chỉ cho cô.
Sương cúi xuống. Đúng. Trên mặt gạch, sát mép, có một dòng chữ nhỏ khắc chìm: “Xưởng Sáu Lý - Mỹ Tho”. Ở viên khác: “Xưởng Tám Đậu - Mỹ Tho”. Mỗi chữ đều mờ vì rêu, nhưng vẫn đọc được.
Tuấn tiếp:
Nhưng bảy viên ở chỗ này em vừa lau xong - cô nhìn nè - bảy viên này không khắc chữ nào.
Anh đếm từng viên bằng ngón tay: một, hai, ba, cho đến bảy. Mỗi viên đều trơn, không chữ, không ký hiệu. Sương ngồi xuống, sờ vào mặt gạch. Gạch vẫn là gạch tàu Mỹ Tho chuẩn - màu đỏ sẫm, kích thước vuông hai tấc - nhưng hoàn toàn trơn.
Sao kỳ vậy? - Sương hỏi.
Em hông biết. Em làm tám năm gạch tàu, lần đầu em thấy bảy viên không khắc tên trong cùng một sân. Có thể ông Đạo cô đặt riêng?
Sương ghi nhanh vào sổ: “Bảy viên gạch tàu không khắc tên xưởng, vị trí góc nam sân Trầu, ô vuông ~4x4 mét. Có liên hệ gì với gì đó dưới sân không?”
Cô đứng dậy. Nhìn xuống mấy viên gạch. Tuấn đã quay đi, tiếp tục lau sân, không hỏi thêm.
Cả buổi sáng, Sương không rời suy nghĩ về mấy viên gạch đó. Cô mở bản vẽ Cốc Tổ - tấm sơ đồ tay từ năm 1962 do chính ông Đạo vẽ, chị Hoa đưa cô chiều hôm trước. Trên bản vẽ, khu vực sân Trầu được ghi đều là “gạch tàu Mỹ Tho 2 tấc”. Không có chú thích gì về bảy viên đặc biệt. Cô gấp bản vẽ, cất vào cặp.
Buổi trưa, ba người thợ ngồi dưới bóng mát một cây bồ đề lớn. Họ ăn cơm hộp từ An Khánh mang sang. Đực lấy ra một bịch muối mè, rắc lên cơm trắng. Sơn chia nước dừa hái sẵn trong vườn. Tuấn không ngồi cùng họ; anh ngồi riêng trên mô đất cạnh bờ sông, nhìn mặt nước, ăn chậm.
Sương ra ngồi cạnh Tuấn.
Anh quen làm việc ở mấy nơi lạ chưa? - cô hỏi.
Dạ quen. Em làm cất nhà thờ ở Trà Vinh toàn đất ruộng, có mộ cổ dưới nền. Mấy bác trong ban quản trị kêu: “Đào trúng mộ thì cúng xin.” Mỗi lần đào trúng, em làm cái miễu nhỏ xin. Xong rồi làm tiếp.
Anh có sợ không?
Hông sợ - Tuấn nhìn dòng sông - Cô mình ở, cô mình lo.
Câu nói của Tuấn lạc lõng nhưng không làm cô khó chịu. Sương gật, đứng dậy, trở vào Cốc Tổ.
Hai giờ chiều. Trời nắng gắt. Sương mang theo máy đo dội âm - GeoScan, loại Trung Quốc, cô mua mới trên Shopee hồi tuần trước, mười lăm triệu - đi vào Cốc Tổ. Cô đeo headphone, cắm dây vào máy. Gạch tàu sàn cốc màu đỏ cũ, mấy chỗ ẩm.
Cô gõ thử cán bút lên gạch khu góc phải: vọng đặc. Lùi vào giữa phòng. Gõ lại: vọng đặc. Cô di chuyển đến khu vực dưới bàn thờ. Gõ nhẹ.
Vọng rỗng.
Sương gõ lại mấy lần, cùng một chỗ. Âm vọng dài, hơi đục, không phải kiểu gõ trên nền đất hay bê tông đặc. Cô đặt máy GeoScan xuống sàn. Điều chỉnh tần số quét. Đèn xanh trên máy nhấp nháy.
Cô bắt đầu quét khu vực dưới bàn thờ, di chuyển từng centimet. Máy phát ra một tiếng bíp nhẹ. Màn hình hiện dòng chữ: “Khoảng rỗng dưới sàn, độ sâu ~20 cm. Kích thước phỏng đoán 3x3 mét. Không xác định chiều sâu hầm hơn - máy chỉ đo được tối đa 50 cm dưới sàn.”
Sương thở ra. Đã có xác nhận. Cô ghi vào sổ:
“Confirmed - khoang rỗng dưới sàn cốc, vị trí ngay dưới bàn thờ, trùng với bảy viên gạch tàu không khắc tên ở góc nam sân Trầu (sân nối liền sàn cốc bằng cùng loại gạch). Kích thước ~3x3 mét. Có thể là hầm cũ chứa di vật ông Đạo. Cần xin Sở VH&TT giấy phép đào khảo cổ. Gửi đơn ngay tuần này.”
Cô ra hiên. Tuấn đang ngồi xổm hút thuốc rê. Điếu thuốc quấn bằng giấy báo, khói xanh bay lên trong nắng. Anh đưa cho cô một ly nước dừa - Sơn đã hái lúc sáng, để trong tủ mát. Ly sứ trắng, nước dừa vẫn còn lạnh.
Cô đo có thấy gì không?
Có khoang rỗng. Sàn cốc rỗng dưới bàn thờ. Em phải xin Sở VH&TT giấy phép đào.
Bao lâu mới có giấy?
Nhanh thì bảy ngày, chậm mười bốn. Em đã hẹn anh Tâm - phó phòng Quản lý Di tích Sở VH&TT - anh ấy sẽ kéo cho em.
Vậy mình làm gì tới đó? - Tuấn dụi điếu thuốc xuống đất.
Tiếp tục dọn rêu sân và bụi cốc. Không đào.
Tuấn gật.
Buổi chiều, Sơn và Đực dọn tiếp phần sân còn lại. Tuấn lau kỹ các cột lim trong Cốc Tổ, dùng giẻ ướt lau từng vết bụi bám trên gỗ. Không ai nói gì thêm về bảy viên gạch. Không ai hỏi về khoang rỗng. Họ làm việc như một cỗ máy: đều, im lặng.
Sương ngồi ngoài hiên, viết báo cáo ngày thứ ba. Trời bắt đầu tối dần. Dòng sông mất màu xanh, chuyển sang màu chì. Chim lẻ bạn kêu hai tiếng rồi bay thẳng về phía An Khánh.
Bảy giờ tối. Tuấn và hai thợ phụ xuống tắc ráng của Bác Sáu về đất liền. Sương đứng ở bờ nhìn thuyền đi. Động cơ nổ đều, mặt nước xé ra hai đường trắng. Khi thuyền khuất sau khúc sông, Sương trở vào nhà nhỏ.
Cô nấu mì gói. Ăn trong bóng tối, chỉ có một bóng đèn vàng treo trước hiên. Gió chướng thổi nhẹ, làm bóng đèn lắc.
Chín giờ. Cô gọi Khang qua Zalo.
Ổn không em? - Giọng Khang mệt, chắc cuối ngày cũng vừa xong việc.
Có khoang rỗng dưới sàn cốc. Em sẽ xin giấy phép đào. Tuấn tốt, không sợ vong.
Em ngủ tốt không?
Đêm qua có nghe tiếng dép lê. Em ghi note. Có thể chuột. Đêm nay em gắn camera.
Khang im năm giây.
Em gắn camera đi. Có gì gửi anh xem. Anh đang dự án cuối tuần này không xuống được. Đợi em xong khảo cổ anh xuống.
Được anh.
Họ cúp máy.
Sương lấy trong ba lô một camera nhỏ - loại WiFi có đèn hồng ngoại - cô mang theo từ thành phố. Cô leo lên cái ghế nhỏ trước hiên, cố định camera vào xà gỗ. Căn chỉnh góc quay. Camera hướng ra sân Trầu, phủ trọn khoảng sân và bốn cột Cốc Tổ. Cô mở ứng dụng trên điện thoại, kiểm tra: hình ảnh hồng ngoại rõ, góc tốt.
Cô xuống ghế, đi rửa mặt ở vòi nước sau nhà. Nước giếng lạnh, xối lên mặt làm cô tỉnh hẳn. Cô đứng im trong bóng tối một lát, tai lắng nghe.
Chỉ có gió và nước.
Sáng hôm đó, lúc tắc ráng cập bến lần đầu tiên, mọi thứ còn mới. Sương nhìn thấy ba người thợ lạ bước lên cồn, thấy khăn rằn đỏ của Tuấn bay trong gió sớm. Cô đã hỏi anh ta về ma. Anh ta trả lời đơn giản đến mức đáng tin.
Bây giờ Sương nằm trên giường, nhìn trần tối. Cô không biết mình hy vọng gì ở khoang rỗng dưới sàn cốc. Có hầm không? Hay chỉ là ổ chuột? Hay một cái hố chứa mấy hũ đồ ông Đạo chôn?
Cô với tay ra bàn cạnh giường, tìm sổ tay. Cô mở lên, viết thêm dòng cuối:
“Ngày 05/02/2020 - Confirmed: khoang rỗng dưới sàn cốc. Bảy viên gạch không khắc tên ở góc nam sân Trầu. Liên hệ? Cái gì đốt bảy viên gạch đó lại không có tên xưởng?”
Cô gấp sổ. Đặt lên ngực. Trong bóng tối, cô tự hỏi câu đó, rồi không trả lời.
Cô nhắm mắt.
Đêm trên cồn rất lặng. Không có tiếng dép lê. Không có tiếng gõ. Camera hồng ngoại ghi suốt đêm - đầu ghi hình sân Trầu vắng ngắt, chỉ có gió thổi lá bồ đề và một con cú đậu trên mái Cốc Tổ lúc hai giờ sáng.
Sương ngủ.
Bảy giờ sáng hôm sau, nắng mới vừa lên. Sương tỉnh dậy, ra hiên xem camera. Không có gì lạ. Cô tắt máy, lấy điện thoại, kiểm tra tin nhắn.
Mẹ cô nhắn:
“Sáng nay mẹ ngủ không được. Làm ơn con đừng động mấy bia mả sau cốc. Mẹ biết con có học hành, nhưng những đó không phải chuyện giấy tờ.”
Sương đọc tin nhắn hai lần. Không trả lời. Cô cất điện thoại vào túi, nhìn ra sân Trầu.
Tuấn sẽ quay lại lúc tám giờ với Sơn và Đực. Công việc hôm nay: dọn xong sân Trầu, quét vôi lại hiên Cốc Tổ, và không ai động vào bàn thờ.
Sương đứng ở hiên nhà nhỏ, nhìn mặt trời dần lên cao trên dòng sông Hàm Luông.
Còn mười một ngày nữa mới có giấy phép đào.