Đáy hầm - Chương 3: Tư Triệu Tránh

Sương thức dậy lúc sáu giờ sáng. Căn nhà nhỏ vẫn tối, ánh sáng lọt qua khe cửa tạo một vệt dài trên nền gạch bông. Cô ngồi dậy, mặc lại bộ quần áo hôm…

Nội dung chương

Sương thức dậy lúc sáu giờ sáng. Căn nhà nhỏ vẫn tối, ánh sáng lọt qua khe cửa tạo một vệt dài trên nền gạch bông. Cô ngồi dậy, mặc lại bộ quần áo hôm qua, đi ra bếp nhóm bếp dầu hỏa. Tay cô quen với động tác vặn van, bật lửa - hồi đi thực địa Cà Mau cô cũng dùng bếp dầu ba tháng.

Cô pha cà phê đen, bỏ đường, khuấy. Cầm ly ra hiên ngồi. Gió chướng vẫn còn, thổi từ sông Hàm Luông vào, mang theo mùi phù sa và dừa mục. Cô uống cà phê, mở sổ tay viết nhanh:

04/02/2020. Sáng. Ngủ tốt, không nghe tiếng lạ. Hôm nay sang An Khánh gặp bà Tư Triệu. Cuộc hẹn 9 giờ đã confirm qua Trang tối qua.

Cô ăn một cái bánh mì khô, uống thêm nước. Bảy giờ rưỡi, cô gọi Bác Sáu Đò.

Bác ơi, con qua An Khánh.

Ừ, chờ bác chút.

Sương đứng ở bến. Tắc ráng của Bác Sáu đã nổ máy, lướt nhẹ qua mặt sông. Cô bước xuống thuyền, ngồi ở mũi. Bác Sáu lái, im lặng. Trên đường, một con cò trắng đậu trên ngọn cây bần ven sông, nhìn dòng nước. Bác Sáu chỉ tay nheo mắt: “Coi kìa.” Sương nhìn theo. Con cò đứng yên, rồi dang cánh bay lên, mất hút về phía cồn.

Sương không nghĩ ra ý nghĩa gì. Cô ngồi nhìn dòng sông.

Tắc ráng cặp bến An Khánh chừng hai mươi phút sau. Sương nhảy lên bờ, đi bộ vào xã. Nhà Tư Triệu ở cuối con đường đất, cạnh một miếu nhỏ. Nhà gỗ ba gian cũ, mái ngói âm dương ám rêu. Hiên trước có hai cây mai vàng đã rụng hết hoa Tết. Cánh hoa rụng đầy gốc, khô.

Sương bước lên sân. Sân lát gạch tàu cũ, mấy viên nứt. Một con chó già nằm cạnh cửa, thấy người thì vẫy đuôi lười, không đứng dậy.

Cô gõ cửa. Im ba mươi giây.

Cánh cửa gỗ mở ra. Một cô gái trẻ đứng ở ngạch - Trang, cháu nội Tư Triệu, chừng hai mươi hai. Mặc áo thun, quần jean, tóc cột thấp. Trang nhìn Sương, rồi nhìn xuống đất. Tay cô giữ cánh cửa, chỉ hé.

Dạ, cô Sương. Bà nội mệt sáng nay. Bà không tiếp được.

Sương ngạc nhiên. Tối qua cô đã gọi điện, Trang trả lời “bà đồng ý, cô qua đi”. Cô hỏi:

Tối qua bà đã đồng ý mà em? Bà có sao không?

Bà nhức đầu từ đêm. Cô để mai qua được không.

Mai mấy giờ?

Trang lúng túng. Tay cô xoay cái then cửa.

Cô cứ gọi tối nay rồi tính.

Sương nhìn Trang. Cô gái không nhìn mặt cô. Mắt lảng ra mấy cây mai rụng.

Em đưa cô vô gặp bà năm phút thôi được không. Bà nằm cũng được, cô không yêu cầu bà ngồi dậy.

Trang lắc đầu:

Bà bảo không tiếp ai hết hôm nay, cô ơi.

Giọng Trang nhỏ, lễ phép, nhưng không nhìn mặt. Đó là cái cách người Bến Tre từ chối lịch sự mà cứng - không từ chối thẳng, chỉ đặt ra một bức tường mỏng, mong người kia hiểu.

Sương hiểu. Cô rút lui.

Thôi, em chuyển lời cho bà giúp cô. Cô là Sương con thứ năm của ổng. Cô đang khảo sát cồn Bồ Đề cho gia tộc. Cô cần hỏi bà vài chuyện. Bà khỏe lại gọi cô bất kỳ giờ nào.

Trang gật. Sương chuẩn bị quay đi. Nhưng Trang nói thêm, giọng khẽ:

Bà có nhắc cô từ tối qua.

Sương khựng lại.

Bà nhắc cô?

Bà nói “rồi nó cũng phải đến cồn”. Em nghe được.

Trang im. Rồi đóng cửa.

Sương đứng trước hiên thêm một lúc. Con chó già ngước mắt nhìn cô, rồi nằm gục đầu trở lại. Cô quay ra cổng.

Trên đường ra bến, cô đi chậm. Câu “rồi nó cũng phải đến cồn” vang vang trong đầu. Không phải câu hăm dọa. Nhưng không phải câu đơn giản. Cô cảm thấy nặng.

Cô ngồi thuyền về cồn lúc mười một giờ. Tuấn chưa tới. Tuấn hẹn mai khởi công. Cô có một ngày rảnh.

Sương quyết định dùng ngày này để soạn lại đồ trong nhà nhỏ.

Cái nhà này từ năm 1980, ít ai ở. Đồ đạc còn lại của ông Đạo Trầu sau khi quản thúc. Sương mở cái tủ gỗ già ở góc phòng. Cánh tủ kẹt, phải đẩy mạnh mới bật.

Trong tủ: quần áo cũ - hai cái áo bà ba trắng, một cái xám, một cái mũ Pháp cũ kiểu fedora, bụi phủ, hơi mốc. Bên cạnh, một đống chén bát sứ Bát Tràng cũ, men trắng đã ngả vàng. Một cây đèn dầu lửa, bấc còn. Một bộ trầu cau khô đã chuyển màu nâu đen, buộc bằng dây chuối, cau khô teo lại.

Sương nhặt bộ trầu lên. Lá trầu nát vụn, vôi tôi đã khô cứng. Cô để lại, không động.

Dưới đáy tủ, một quyển album dày bìa da.

Sương ngồi xuống sàn gạch bông, đặt album trên đùi, mở.

Bên trong là những tấm ảnh đen trắng, một số ảnh màu đã phai. Khoảng tám mươi tấm. Đa số là ảnh tín đồ áo bà ba trắng ngồi sân Trầu, thành hàng. Khuôn mặt nghiêm trang, nhiều người già, có người trẻ. Ảnh năm 1965, 1968, thấy ghi phía sau. Sương lật chậm. Một tấm ảnh màu có ông Đạo Trầu mặc áo bà ba trắng, đứng trước Cốc Tổ, tay cầm xâu trầu. Nét mặt trầm, mắt nhìn thẳng vào ống kính. Bên cạnh là bà Tư Triệu trẻ - lúc đó chừng hai mươi chín. Áo bà ba đen, quần trắng, đầu không nón. Cũng nhìn thẳng.

Sương nhìn ảnh một hồi. Bà cụ tránh mặt cô sáng nay. Nhưng trong tấm ảnh, gương mặt Tư Triệu trẻ tỏ rõ một sự cương nghị mà cô chưa thấy ở người già tám mươi tư.

Cô lật tiếp.

Đến trang giữa album, cô dừng.

Một tấm ảnh chụp sân Trầu, góc từ Cốc Tổ nhìn ra. Mười hai cây bồ đề non mới trồng, mỗi cây cao khoảng một mét. Ông Đạo ngồi ghế gỗ, một tay chống gậy. Tư Triệu đứng phía sau. Và giữa hai người, một đứa bé trai chừng bốn tuổi đang cầm một cây cau khô chơi, mặt nheo nheo nắng.

Sương lật mặt sau ảnh. Chữ viết tay bằng mực xanh: “Sân Trầu - rằm tháng Tư Nhâm Tý - 1972.”

Đứa bé 1972. Bốn tuổi.

Sương cố suy luận. Năm 1972, đứa bé này có thể sinh 1968. Nếu còn sống, bây giờ năm mươi hai tuổi. Cô không biết là ai. Con của tín đồ? Cháu của tín đồ?

Cô ghi note vào sổ tay:

Album cũ - ảnh 1972 - đứa bé trai 4 tuổi trong sân Trầu. Không xác định danh tính. Hỏi Tư Triệu sau.

Cô đóng album, cất lại vào tủ. Tay cô chạm vào bộ trầu cau khô lần nữa. Mùi trầu cũ khô thoảng lên, xộc vào mũi. Đây là thứ bà Tư Triệu đã nhai từ thời còn trẻ. Sương đặt lại, kéo cửa tủ.

Buổi trưa, cô nấu mì gói, ăn ngoài hiên. Nhìn ra sân Trầu. Bảy bia mộ giả đứng yên dưới nắng. Gió chướng thổi qua, đám cỏ khô rung lên.

Không có âm thanh lạ. Chỉ tiếng chim lẻ bạn kêu trên ngọn bồ đề.

Sương lấy máy ảnh kỹ thuật số chụp toàn cảnh khu Cốc Tổ. Cô đo kích thước sân Trầu một lần nữa, ghi vào sổ. Bảy bia mộ giả, ghi: Nhất Tịnh, Nhị Tịnh, Tam Tịnh, Tứ Tịnh, Ngũ Tịnh, Lục Tịnh, Thất Tịnh. Không tên thật. Không ngày sinh. Chỉ ghi ngày “lên” - rằm tháng Ba Quý Sửu.

Cô đứng trước bia Thất Tịnh lâu hơn. Hàng chữ khắc sâu, mảnh, nét chữ của người viết có học - có thể ông Đạo tự khắc. Cô chạm tay vào mặt bia. Đá hoa cương xanh, kiểu tạc thường thấy ở các ngôi mộ cổ Nam Bộ.

Cuối chiều, cô trở vào nhà nhỏ. Trời nhá nhem. Cô nấu cơm trắng với muối mè - đồ dự trữ ít. Ăn xong, cô ra hiên ngồi, mở sổ viết báo cáo ngày thứ hai.

Ngày 04/02/2020. Sáng: gặp Tư Triệu không thành - bà tránh. Trang (cháu nội) nói bà đã nhắc tôi trước. Cần quay lại. Trưa: soạn đồ tủ gỗ - tìm thấy album ảnh cũ, có ảnh đứa bé 4 tuổi 1972 trong sân Trầu. Không xác định. Bộ trầu cau khô. Cần ghi nhận.

Chiều: đo đạc sơ bộ khu mộ giả. Bia đá xanh - khắc pháp danh, không tên thật. Sân Trầu 392 m². 12 cây bồ đề. Cốc Tổ 4x4 mét sàn. Tuấn sẽ tới khởi công sáng mai.

Cô gấp sổ. Gọi Bác Sáu Đò báo mai Tuấn qua. Bác Sáu nói ừ, rồi cúp.

Tối xuống nhanh ở cồn. Sương ngồi ngoài hiên mặc áo khoác mỏng, nhìn dòng sông dần tối. Đèn điện trên cồn chỉ có một bóng - cái bóng treo trước hiên, vàng vọt. Tiếng gió chướng rít qua mái ngói. Cô nghe tiếng nước vỗ vào bờ phù sa.

Cô đi ngủ lúc chín giờ. Kiểm tra camera WiFi cô đã gắn sẵn trên hiên, hồng ngoại bật. Máy sẽ ghi suốt đêm.

Cô nằm xuống giường.

Ngủ thiếp đi.

-

Sương tỉnh giấc lúc 2:15 sáng.

Cô không biết cái gì đánh thức mình. Không phải gió. Cô nằm yên, mắt mở trong bóng tối. Vài giây sau, tiếng động vọng từ ngoài sân Trầu - cách nhà nhỏ chừng ba mươi mét. Tiếng dép lê.

Chậm. Đều.

Không phải tiếng gió đập cửa. Đó là bước chân - có một người đang đi trên sân Trầu, dép quẹt trên gạch tàu rêu. Tiếng ngắt một nhịp rồi lại tiếp.

Sương ngồi dậy. Cô với tay lấy cây đèn pin chuyên dụng để trên bàn - loại PinPoint, sáng trắng. Cô bước ra khỏi giường, đi chân đất ra hiên. Cô đẩy nhẹ cửa.

Gió tràn vào, mát lạnh.

Cô đứng trên hiên, bật đèn pin. Luồng sáng trắng dài xẹt qua sân Trầu - gạch tàu rêu xanh, bốn cột Cốc Tổ, mười hai cây bồ đề đứng im trong gió. Không thấy ai.

Tiếng dép lê đã dừng. Từ lúc cô bật đèn, nó ngưng.

Sương đứng yên hai phút. Soi đèn từ góc này sang góc kia. Cả sân trống. Cô tắt đèn, đứng thêm vài giây trong bóng tối, lắng nghe. Chỉ có gió.

Cô quay vào, đóng cửa. Không gọi Khang - nửa đêm, không muốn anh lo. Cô ghi vào sổ tay bằng ánh sáng điện thoại:

Đêm 1 (04/02 rạng 05/02) - 2:15 sáng - nghe tiếng dép lê chậm trên sân Trầu. Nhịp đều, có ngắt. Khi soi đèn thì dừng. Không thấy dấu vết. Có thể chuột? Chuột không có nhịp bước đều. Có thể gió chướng vào mái cốc? Gió không tạo âm thanh dép trên gạch. Mai kiểm tra camera.

Cô đi vệ sinh. Uống một ly nước. Quay lại giường.

Nhưng cô không ngủ thêm.

Sương nằm mở mắt trên giường, nhìn trần nhà tối. Gió chướng rít nhẹ qua khe cửa sổ, làm tấm rèm cũ phồng lên rồi xẹp. Cô lắng nghe tiếng sông vỗ đều ngoài bờ.

Tiếng dép lê vẫn còn trong tai.

Cô cố phân tích: đó có thể là chuột lớn, có thể là cánh cửa cốc va đập, có thể là tiếng kết cấu gỗ tróc. Có ngàn lý do. Nhưng trong bóng tối này, ở một hòn đất trơ trọi giữa sông, sau một ngày bị Tư Triệu tránh mặt và một tấm ảnh đứa bé lạ, Sương thấy câu hỏi nhẹ nhưng cứng - giống bước dép đó, in trên gạch tàu rêu.

Cô nằm, hai tay để sau gáy, mắt nhìn trần. Đợi sáng.

Bên ngoài, sông Hàm Luông chảy dưới màn đêm. Gió chướng vẫn thổi, đều đều, như ai đó cần mẫn quét lên mặt cồn món nợ cũ.

Chương khác

Xem thêm