Đáy hầm - Chương 5: Ảnh Cũ
Chín giờ sáng, nắng đã cao hơn mái Cốc Tổ. Tuấn quyết định dọn bàn thờ trước khi giấy phép đào về - Sương đồng ý, dặn lau nhẹ tay, đừng động vào bát…
Nội dung chương
Chín giờ sáng, nắng đã cao hơn mái Cốc Tổ. Tuấn quyết định dọn bàn thờ trước khi giấy phép đào về - Sương đồng ý, dặn lau nhẹ tay, đừng động vào bát nhang. Anh lấy giẻ ướt lau mặt bàn thờ. Lớp bụi dày trên gỗ lim loang ra, để lại vệt nước sậm màu. Anh lau từng góc, cẩn thận như lau đồ thờ cúng trong nhà ông bà ở Trà Vinh.
Tấm vải vàng phủ trước bàn thờ đã mục một góc. Tuấn vén nó lên. Phía sau là vách trúc đan - từng thanh tre già xếp sít nhau, màu vàng nâu của thời gian. Anh sờ dọc vách. Ngón tay chạm một chỗ kêu khác - tiếng gõ trên gỗ rỗng. Anh đẩy nhẹ. Một tấm trúc giả lắp khít vào vách thật rơi ra.
Phía sau là hộp tôn cũ. Kích thước chừng ba mươi nhân hai mươi nhân mười. Băng keo vàng dán quanh hộp đã giòn, vỡ vụn khi Tuấn chạm tay.
Cô Sương - Tuấn gọi, giọng anh vang trong cốc nhỏ - Em tìm thấy hộp.
Sương bước vào. Cô ngồi xuống cạnh Tuấn, cả hai trên sàn gạch tàu. Tuấn đặt hộp ra giữa. Sương dùng dao rọc giấy cắt lớp băng keo cũ. Nắp hộp bật lên.
Bên trong:
Mười hai tấm ảnh đen trắng, cỡ chín nhân mười bốn. Một tấm bằng tiếng Pháp, giấy dày đã ngả vàng. Một lá thư tay ba trang gấp tư, dấu bưu điện Lyon mười tám tháng ba năm 1936.
Sương nâng lá thư lên. Cô đọc được tiếng Pháp. Hàng chữ mực đen viết tay nghiêng đều:
Cher Thâm,
Mère et père sont morts ce mois-ci. La peste à Mỏ Cày. Je suis désolé. Reviens.
Henri G.
Thư từ Pháp 1936 - Sương nói, giọng cô đều - Một người tên Henri G. báo tin mẹ cha ông nội em - tức ông cố và bà cố em - đã chết tháng ba 1936 vì dịch ở Mỏ Cày.
Tuấn nhìn dấu bưu điện. Anh không đọc tiếng Pháp.
Ông Đạo hồi đó ở Lyon, Pháp - Sương tiếp - Học kỹ sư hóa. Nhận thư thì tháng ba. Ông về năm 1938.
Cô đặt thư xuống, lấy tấm bằng. Mặt in chữ Pháp, chữ to: Diplôme d'Ingénieur en Chimie Industrielle, délivré à Lê Văn Thâm, le 15 juin 1938. École de Chimie Industrielle de Lyon.
Bằng thật - Sương nói - Ông nội em học hóa bên Pháp. Không phải đạo sư mù chữ.
Cô ghi vào sổ tay: Henri G. - bạn Pháp ông Đạo. Cha mẹ ông Đạo chết 1936 vì dịch ở Mỏ Cày. Phải tra lại sử dịch hạch Bến Tre 1935-1936. Sương ngồi lật từng tấm ảnh. Phía sau mỗi tấm có chữ viết bằng mực xanh đã nhòe: *Sân Trầu - rằm tháng 8 âm 1968.
Sân Trầu - rằm tháng 4 âm 1969. Sân Trầu - rằm tháng 8 âm 1970. Rằm tháng 4 âm 1971 - 38 đệ tử bậc 1. * Tín đồ trong ảnh ngồi xếp bằng trên sân Trầu, áo bà ba trắng đồng nhất. Mười hai tấm ảnh trải từ 1968 tới 1972. Sân Trầu ngày đó đông người hơn bây giờ.
Cây bồ đề còn nhỏ, mới trồng, không che kín sân. Tấm ảnh thứ mười một - Sân Trầu - rằm tháng 4 âm Nhâm Tý 1972 - Sương dừng lại. Trong ảnh, một đứa bé chừng bốn tuổi đứng phía xa, tay cầm cây cau khô. Đứa bé mặc áo sơ mi trắng, quần đen, đầu trọc.
Sương lật phía sau. Hàng chữ mực xanh: Lễ rằm tháng 4 năm Nhâm Tý - 47 đệ tử bậc 1 áo bà ba. 5 đệ tử bậc 1 đăng ký Lên Niết Bàn lần đầu. Bốn mươi bảy đệ tử bậc 1. Sương ghi chép: *Năm tư đệ tử bậc 1 đăng ký Lên Niết Bàn từ rằm tháng 4 âm 1972 - 11 tháng trước sự kiện 17/04/1973.
Sau xét chọn còn 7. * Cô nhìn đứa bé. Sinh khoảng 1968. Ai? Đệ tử bậc 2 có con? Khách qua đường? Sương xếp mười hai tấm ảnh ra sàn hiên Cốc Tổ. Nắng mười giờ sáng chiếu lên mặt ảnh. Cô ngồi nhìn chúng, tay cầm cốc nước dừa Sơn để sẵn.
Không có cảm xúc lớn trong cô - chỉ là những con số, những khuôn mặt vô danh, một tấm bằng cũ và một lá thư báo tang 1936. Tuấn ngồi ở góc hiên hút thuốc rê. Sợi thuốc quấn bằng giấy báo, cháy đỏ đầu ngón tay. Anh nhìn mười hai tấm ảnh Sương xếp, nhìn từng khuôn mặt tín đồ áo trắng.
Tuấn nhớ hồi nhỏ ở Trà Vinh, ông nội anh kể chuyện một ông đạo đi từ cồn này sang cồn kia, mặc áo trắng, có cái mũ Pháp. Người ta tin lắm. Có người bỏ ruộng đi theo. Ông nội kể có người không về. Lúc tám tuổi anh không hiểu "không về" là gì.
Bây giờ nhìn mười hai tấm ảnh, nhìn những khuôn mặt ngồi xếp bằng dưới nắng Cốc Tổ, anh hiểu một phần.
Anh Tuấn - Sương ngẩng lên - Ông nội anh từng nghe về ông Đạo Trầu không?
Tuấn dừng điếu thuốc, nhả khói.
Có cô. Ông nội em hồi nhỏ 1960 nghe nói có ông đạo bên Bến Tre lập đạo lai. Ông không quen. Trà Vinh xa cồn này.
Anh có sợ làm ở cồn này không?
Tuấn rít thêm một hơi.
Không cô. Em chỉ ngại nếu vong là vong oan, có thể quanh quẩn. Vong tự nguyện thì không quanh quẩn. Vong tự nguyện thường yên.
Sương ghi vào sổ: Vong tự nguyện thường yên - theo Tuấn (Khmer-Việt Theravada). Cô tiếp tục xem ảnh. Tấm nào cũng có người, tấm nào cũng có sân Trầu, bốn cột Cốc Tổ, mười hai cây bồ đề còn nhỏ. Năm 1968, sân Trầu còn mới, gạch tàu chưa rêu. Năm 1972, gạch đã ngả màu thời gian. Sương đặt ảnh xuống. Cô đưa tay lau mặt. Mồ hôi lấm tấm trên trán dù đã qua chín giờ. Nắng Bến Tre gay gắt. Cô gấp mười hai tấm ảnh lại, xếp vào hộp tôn cùng bằng và thư.
Em mang về nhà nhỏ. Chiều anh Tuấn làm tiếp phần dọn bụi trên mái.
Tuấn gật. Chiều trên cồn xuống nhanh. Sương ngồi ngoài hiên nhà nhỏ, mở hộp tôn lần nữa. Cô chụp ảnh lá thư tiếng Pháp và tấm bằng 1938. Gửi cho Khang qua Zalo kèm dòng: Anh dịch dùm em lá thư tiếng Pháp này nha. Không gấp. Ba mươi phút sau, Khang trả lời: Anh đọc Pháp được nhưng rỉ rách. Để anh hỏi anh Bảo - giám đốc dự án anh - anh Bảo học Sorbonne. Mai anh gửi bản dịch cho em. Sương: Cảm ơn anh. Trời tối dần. Cô gọi mẹ. Máy đổ chuông bốn tiếng trước khi mẹ bắt máy.
Sương hả con. Khảo sát tới đâu rồi?
Má, con tìm thấy bằng tốt nghiệp kỹ sư hóa Pháp của ông nội năm 1938 với một lá thư tiếng Pháp 1936. Má có biết ông cố và bà cố em chết 1936 vì dịch ở Mỏ Cày không?
Mẹ im ba giây. Sương nghe tiếng thở dài qua điện thoại.
Má có nghe ba con kể. Tía bảo bà cố chết trước, ông cố chết sau một tuần. Tía con sinh 1959 nên không biết. Tía chỉ nghe ông Đạo kể lúc tía sáu tuổi. Tía bảo ông Đạo kể ngắn lắm. Một câu thôi: "Mẹ với cha chết dịch trong cùng tuần, tao đang ở Pháp, tao không kịp về."
Cảm ơn má.
Sương này. Má biết con thích tìm hiểu. Má cũng không ngăn. Nhưng đừng mất mấy đêm trên cồn. Con với Khang còn trẻ. Còn cả đời. Chuyện cồn này để lúc nào cũng được.
Con biết rồi má.
Mẹ cúp máy.
Sương ghi vào sổ: Ông Đạo có hai mất mát lớn: 1936 cha mẹ chết dịch ở quê khi ông ở Pháp; 1958 đồng đội Sáu Nhâm chết Bình Đại. Mỗi mất mát cách 22 năm. Ông lập đạo 1962 - 4 năm sau Sáu Nhâm. Hướng giải quyết: nghiên cứu Tâm Nguội trong sự kết hợp khoa học hóa học và mất mát cá nhân.
Cô gấp sổ. Đặt hộp tôn lên bàn. Cô cầm tấm bằng kỹ sư lên xem lần nữa. Mặt giấy dày, có hoa văn, tem dập nổi của trường Lyon. Tên Lê Văn Thâm in rõ. Cô nhìn tên ông nội - người đàn ông mặc áo bà ba trắng trong ảnh, ngồi giữa đám đông tín đồ, tóc húi ngắn, trán cao, mắt nhìn vào ống kính thẳng thắn.
Cô chưa hiểu ông. Cô chưa hiểu Đạo Bồ Đề Tây Nam. Nhưng cô đã thấy hai dữ kiện đầu tiên: một kỹ sư hóa học thật sự, và một lá thư báo tang từ Lyon. Một người đàn ông có thể lập một giáo phái với ba nghìn tín đồ phải có lý do - không phải vì điên, không phải vì lừa đảo.
Sương ngồi ngoài hiên nhìn trời sao. Đêm Bến Tre trời cao, ít mây. Sông Hàm Luông lấp lánh ánh trăng non. Tiếng gió chướng thổi qua cồn, qua mười hai cây bồ đề, qua Cốc Tổ tối im.
Cô nghĩ về cha mình. Năm 2001, cha cô đốt một xấp giấy gì đó trên sân Trầu. Cha khóc. Cha không bao giờ lên cồn lần nữa. Cô không nhớ rõ. Nhưng bây giờ cô tự hỏi: cha đã biết điều gì?
Sương vào nhà. Cô đặt hộp tôn dưới gầm giường. Cô nằm xuống, tay đặt lên ngực. Camera WiFi đã gắn ngoài hiên, sẵn sàng ghi hình suốt đêm.
Không có âm thanh lạ. Chỉ có tiếng cú kêu hai tiếng trên ngọn bồ đề gần Cốc Tổ. Sương nghe tiếng cú, rồi ngủ thiếp đi.
Ngày thứ ba trên cồn trôi qua.