Đáy hầm - Chương 6: Chị Hoa
Thứ Bảy, tám giờ sáng. Sương đang ngồi ngoài hiên nhà nhỏ với ly cà phê phin, nhìn ra sân Trầu thì thấy một chiếc tắc ráng từ bến An Khánh lướt tới. Trên…
Nội dung chương
Thứ Bảy, tám giờ sáng. Sương đang ngồi ngoài hiên nhà nhỏ với ly cà phê phin, nhìn ra sân Trầu thì thấy một chiếc tắc ráng từ bến An Khánh lướt tới. Trên thuyền có bốn người: Tuấn, Sơn, Đực, và một người đàn bà mặc áo sơ mi trắng, quần đen, tóc búi gọn.
Chị Hoa.
Sương đứng dậy, vẫy tay. Chị Hoa đáp lại bằng một cái vẫy ngắn, rồi quay xuống xách đồ. Hai bịch nylon lớn. Tuấn đỡ cho chị một bịch, hai tay xách lên bờ. Sơn và Đực khiêng máy xịt rửa cùng thùng hóa chất.
Chị mang đồ ăn lên. - Chị Hoa bước tới, mồ hôi lấm tấm trên trán - Mẹ làm bánh tét với cá kho sáng nay. Nói em ở cồn chắc thiếu cơm.
Sương đỡ lấy bịch. Cảm giác nặng, ấm, có hơi nước phả ra từ lá chuối gói bánh. Cô cúi xuống cười.
Em ăn mì gói ba ngày rồi. Cảm ơn chị.
Hai chị em vào nhà nhỏ. Tuấn cùng hai thợ phụ dừng lại dưới hiên Cốc Tổ, không theo. Tuấn nói vọng qua:
Tụi em ăn cơm hộp dưới gốc bồ đề. Cô Sương với chị Hoa ăn tự nhiên.
Sương đáp lại, rồi kéo băng ghế gỗ trong bếp ra. Chị Hoa mở bịch, lấy ra một đòn bánh tét còn ấm, một tô cá kho tộ, một hũ dưa muối, một bọc rau sống. Tất cả xếp lên mặt bàn gỗ. Căn bếp nhỏ chợt ấm lên vì mùi dừa, mùi nước mắm, mùi lá chuối.
Chị mang lên từ sáng sớm. Mẹ chị dậy từ bốn giờ nấu. - Chị Hoa bóc bánh tét, xắt khoanh tròn. - Thằng Tuấn kia à, nó làm được mấy ngày rồi?
Bốn ngày. Em mới thuê từ mùng sáu Tết. Làm chăm lắm. Không sợ ma. Anh ấy nói vong tự nguyện không quanh quẩn.
Chị Hoa dừng tay. Nhìn Sương ba giây.
Vong tự nguyện? Ai nói vậy?
Thợ Tuấn. Anh ấy người Khmer Việt, theo Phật giáo Nam tông.
Chị Hoa gật, không nói thêm. Cô gắp một khoanh bánh tét vào chén Sương.
Ăn đi. Lát nguội.
Hai chị em ăn trong nắng trưa. Nắng Bến Tre tháng Giêng gay gắt, hắt vào mái hiên nhà nhỏ, đổ xuống mặt bàn một vệt sáng trắng. Sương ăn chậm. Vị nước cốt dừa của bánh tét, vị cá kho tộ có thêm tiêu vàng nguyên hạt, vị nước mắm mẹ chị Hoa pha chua ngọt. Sương nhai, nuốt, cảm thấy như mới ăn cơm nhà lần đầu sau nhiều năm.
Chị Hoa đặt đũa xuống. Cô lau miệng bằng khăn tay.
Em có tìm thấy gì chưa?
Sương cầm cốc nước dừa, uống một ngụm.
Có một hộp tôn sau bàn thờ Cốc Tổ. Trong đó có mười hai tấm ảnh, một bằng tốt nghiệp kỹ sư hóa của ông nội năm 1938, một lá thư tiếng Pháp báo tang ông cố bà cố chết năm 1936. Còn mấy cái thư tay ghi ngày 1956, 1958, 1962 nữa.
Chị Hoa ngồi im, tay cầm chiếc ly nhôm. Cô nhìn ra cửa, ra sân Trầu, ra mười hai cây bồ đề xào xạc trong gió.
Ảnh nào có người không?
Ảnh nào cũng có người. Đa số là tín đồ ngồi xếp bằng dưới sân. Có một tấm ông nội ngồi ở bàn thờ năm 1968, một tấm các đệ tử bậc 1 năm 1971.
Chị Hoa gật, không hỏi thêm. Cô xoay ly nhôm, chỉ tay ra sân.
Em có để ý cây bồ đề thứ ba từ phải qua không?
Sương quay nhìn. Mười hai cây bồ đề trồng theo hình vòng cung. Cây thứ ba từ phải qua có thân to hơn hẳn, tán lá xanh đậm, tỏa rộng.
Em có thấy. Chị biết gì về nó?
Ba má chị hồi nhỏ từng theo ông Đạo lên cồn ngày rằm tháng Tư âm. Má chị nói năm 1970, rằm tháng Tư, ông Đạo làm lễ dưới cây bồ đề đó. Ông nói cây đó là "cây treo đèn". Trên cây ông treo mấy chiếc đèn lồng giấy, mỗi chiếc đề một pháp danh. Đốt lên suốt đêm. Người ta ngồi dưới nhìn ánh sáng từ trên cao rọi xuống.
Sương im lặng, ghi nhớ.
Chị Hoa uống cạn nước dừa.
Rằm tháng Tư năm 1992, em còn nhỏ, chắc không nhớ. Hồi đó chị hai tuổi. Má chị nói bà cô Tư Triệu khóc trong miếu xóm An Khánh suốt đêm. Hỏi sao khóc, bà không nói. Mãi sau má chị mới kể: hôm đó tròn mười chín năm ngày mấy người đó đi.
Sương đặt đũa xuống.
Mấy người đó là bảy đệ tử?
Chị Hoa nhìn Sương, mắt không chớp.
Ừ. Bảy người mất tích trong một đêm. Họ mất tích năm 1973, rằm tháng Ba âm, chứ không phải tháng Tư. Nhưng ông Đạo lại chọn tháng Tư làm lễ tưởng niệm. Không biết lý do.
Sương ghi vào sổ.
Chị Hoa nói tiếp, giọng đều:
Sau đó, năm 2001, ba của em đốt một xấp giấy trên sân Trầu này. Ba em khóc. Rồi ba em bỏ đi, không bao giờ lên cồn lần nữa.
Sương nghe tim mình chùng xuống. Cô vẫn cầm đũa, nhưng tay không động đậy.
Em còn nhớ không?
Sương nuốt. Cô nhìn xuống mặt bàn, nơi những vụn bánh tét rơi rải rác.
Em nhớ mùi giấy cháy. Ba khóc. Nhưng em không nhớ mặt ba lúc đó.
Em mấy tuổi năm 2001?
Mười hai.
Mười hai tuổi lên cồn. - Chị Hoa nói từ tốn - Em đã hỏi ba đốt gì không?
Sương đặt đũa xuống bàn. Tiếng đũa gõ trên mặt gỗ, nghe rõ.
Em đã hỏi. Ba bảo: lần này thôi, sau này không lên cồn nữa. Rồi ba không lên. Ba chết năm 2015.
Hai chị em im lặng một lúc. Tiếng gió thổi mạnh qua cồn, làm mấy cây bồ đề xào xạc. Nắng đã đứng bóng, sân Trầu nóng rực.
Chị Hoa đứng dậy, thu dọn bát đũa.
Em có hỏi má em về chuyện đó không?
Má không biết. Má bảo ba tự đến cồn, không kể với ai.
Má em về làm dâu nhà họ Lê từ năm 1988. Má đâu có biết chuyện cũ.
Sương gật, nhưng không nói gì.
Chị Hoa rửa tay dưới vòi nước giếng sau bếp. Nước mát, xối xuống nền xi măng. Cô lau tay vào vạt áo, quay lại.
Chiều nay chị về. Em có muốn chị ở lại một đêm không? Mai chủ nhật, chị không có việc.
Sương lắc đầu.
Em cảm ơn chị. Nhưng em còn việc. Tuấn với các anh điều chỉnh mái ngói Cốc Tổ, em phải trông. Anh Tuấn tính sửa phần mái bị rêu mốc.
Chị Hoa gật, không nài.
Vậy để chị về. Tắc ráng hai giờ.
Con tắc ráng của Bác Sáu đã đậu sẵn ở bến từ trưa. Bác Sáu ngồi trên mũi, quạt giấy. Sương tiễn chị Hoa ra bờ. Hai chị em đi dọc bờ cồn, dưới những hàng dừa nước. Sông Hàm Luông chiều xuống, nước màu xanh chì, sóng lăn tăn.
Em có biết vì sao ba em không bao giờ lên cồn từ 2001? - Chị Hoa hỏi khi gần đến bến.
Em không biết. Cả đời em không hỏi lại.
Em có muốn biết không?
Sương dừng bước. Cô nhìn xuống mặt sông. Một con đò máy lướt qua, tiếng nổ động cơ phá vỡ sự tĩnh lặng. Khi tiếng máy xa dần, Sương nói:
Em không biết.
Chị Hoa quay lại, mắt Sương không ướt, nhưng môi cô mím chặt.
Nếu em tìm ra điều gì đó khó nói, em sẽ kể cho chị không?
Sương im hai giây.
Em sẽ kể. Nhưng không phải bây giờ.
Chị Hoa gật. Cô bước xuống thuyền. Bác Sáu nổ máy, tắc ráng từ từ xa bờ. Sương đứng trên bờ, nhìn thuyền lướt ra giữa dòng, vượt qua một chướng cát dài, rồi từ từ khuất sau khúc sông.
Sương quay vào.
Sân Trầu vẫn trống. Tuấn cùng Sơn và Đực đang leo trên mái Cốc Tổ, cạo rêu. Tiếng bay cạp gạch ngói, tiếng cười của họ vọng xuống. Nắng chiều đã dịu bớt, gió từ sông thổi vào mát rượi.
Sương ngồi xuống bậc thềm Cốc Tổ, tay cầm điện thoại. Cô mở ứng dụng ghi âm, ghi lại một tin nhắn thoại cho Khang.
"Anh, sáng nay chị Hoa lên, kể cho em một chuyện. Năm 2001 ba em đốt một xấp giấy trên sân Trầu, khóc. Ba không bao giờ lên cồn nữa. Em nghĩ ba đã biết gì đó. Em không nhớ rõ, em chỉ nhớ mùi giấy cháy và tiếng ba khóc. Ba nói: lần này thôi, sau này không lên cồn nữa. Em không hiểu."
Cô nhấn gửi.
Mười phút sau, Khang trả lời tin nhắn.
"Anh đang tìm hiểu giấy tờ cũ của ba anh. Ba anh cũng có một tấm giấy cũ, loại giấy da, ghi 'B - 1973'. Anh chưa hỏi ba. Đợi anh xem."
Sương đọc tin nhắn hai lần. B - 1973. B là gì? Tên một người? Một pháp danh?
Cô gấp điện thoại. Để nó vào túi. Cô nhìn ra sân Trầu, nhìn viên gạch đầu tiên trong bảy viên gạch không khắc tên ở góc nam. Nó nằm lẫn giữa những viên gạch thường, không ai để ý ngoài cô và Tuấn.
Cô đứng dậy, đi vòng ra sau Cốc Tổ. Bảy tấm bia vọng đá xanh xếp hình vòng cung, mỗi bia cách nhau ba mét. Bia nào cũng chỉ có pháp danh, không có tên thật. Nhất Tịnh, Nhị Tịnh, Tam Tịnh, Tứ Tịnh, Ngũ Tịnh, Lục Tịnh, Thất Tịnh. Cả bảy bia đều cũ, rêu phong, chữ khắc mờ.
Sương ngồi xuống trước bia Nhất Tịnh. Mặt đá lạnh, sần sùi. Cô đưa tay sờ vào dòng chữ "Lên Niết Bàn ngày 15 tháng 3 năm Quý Sửu". Dưới dòng chữ là một con số: tuổi đạo 11 năm.
Mười một năm tu hành. Người này vào đạo năm 1962, cùng năm lập đạo. Có nghĩa là người đầu tiên.
Sương ngồi ở sân sau một lúc lâu. Nắng chiều đổ bóng những cây bồ đề dài trên mặt đất. Gió thổi qua bia, qua những ký tự khắc, không có âm thanh gì ngoài tiếng lá rơi.
Khi trời gần tối, cô đứng dậy, đi vòng lại Cốc Tổ. Tuấn và hai thợ phụ đã xuống mái, đang thu dọn dụng cụ. Tuấn thấy cô, gật đầu.
Mai làm gì tiếp cô?
Lau mái xong rồi quét vôi lại phần tường ngoài Cốc Tổ. Chừa phần bàn thờ.
Tuấn gật, không hỏi thêm. Anh với Sơn và Đực ra bờ xuống tắc ráng. Trời sắp tối. Sương đứng trên bờ nhìn thuyền đi khuất vào màn chiều.
Tối hôm đó, Sương nằm không ngủ được. Năm 2001. Ba cô đốt giấy, khóc. Ba nói: lần này thôi. Tại sao là lần này thôi? Có phải ba đã làm chuyện đó một lần rồi? Lúc nào? Trước 2001, ba đã lên cồn bao nhiêu lần? Cô không nhớ.
Cô nhấc điện thoại, gọi cho mẹ. Đổ chuông năm lần.
Sương hả con. Khuya rồi.
Má. Hồi con nhỏ, ba có hay lên cồn không má?
Mẹ im mười giây.
Có. Ba đi một mình. Thường đi ngày lễ. Có lần đi ngày thường. Má không biết ba đi làm gì.
Má có biết ba đốt giấy năm 2001?
Mẹ im thêm một lúc.
Biết. Hôm đó ba đi từ sáng, về khuya. Mắt ba đỏ. Má hỏi, ba bảo không có gì. Má biết là có, mà hỏi hoài ba không nói.
Má không hỏi nữa?
Mười giây trôi qua.
Không.
Sương nghe tiếng mẹ thở dài nhẹ qua điện thoại.
Con ơi, chuyện cồn này, ba con đã gánh một mình. Má không biết gánh nặng ấy là gì. Nhưng má thấy ba con gánh tới ngày ba mất. Con có quyền biết. Má không cấm.
Sương cúp máy.
Cô đặt điện thoại xuống bàn. Đêm trên cồn tối đen. Không trăng, không sao. Chỉ có gió và nước.
Cô nằm lại xuống giường, tay đặt lên ngực.
Trong bóng tối, cô tự hỏi: ba đã biết điều gì mà ông Đạo không muốn ai biết? Hay ba đã biết điều gì mà ông Đạo đã cố làm cho người ta tin?
Cô nhắm mắt, nghe tiếng gió.
Rồi cô ngủ.
Sáng Chủ nhật, Sương dậy sớm. Cô ra hiên nhà nhỏ, ngồi uống cà phê. Sân Trầu tĩnh lặng, không một bóng người. Chỉ có gió thổi lá bồ đề và mấy con chim sẻ mổ thóc trên sân.
Cô lấy sổ tay, viết:
"Ngày 08/02/2020. Chị Hoa lên, kể chuyện ba đốt giấy 2001. Ba khóc. Ba không bao giờ lên cồn nữa. Có thể trùng với điều ba đã biết - có thể trùng với điều ông Đạo đã làm. Em cần tìm hiểu thêm từ mẹ, từ Tư Triệu, từ bất kỳ ai còn sống có thể kể lại."
Cô gấp sổ. Nhìn lên trời. Trời xanh, nắng nhẹ. Một ngày đẹp.
Nhưng Sương không thấy lòng mình nhẹ.