Trùng Tang Bên Sông Đuống - Chương 45
Bà Nhàn quỳ giữa sân tối, bắt đầu kể hết mọi chuyện. Giọng bà run run nhưng rõ ràng từng chữ, vang vọng trong đêm tĩnh lặng như tờ, ai cũng nín thở lắng…
Nội dung chương
Bà Nhàn quỳ giữa sân tối, bắt đầu kể hết mọi chuyện. Giọng bà run run nhưng rõ ràng từng chữ, vang vọng trong đêm tĩnh lặng như tờ, ai cũng nín thở lắng nghe:
- Tôi là Trần Thị Nhàn, vợ của Nguyễn Văn Lộc, mẹ của Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Văn Thành, bà nội của Nguyễn Minh Đức. Đêm nay, đêm 30 Tết, trước vong linh các cụ tổ tiên, trước Quỷ thần, trước tất cả mọi người có mặt ở đây, tôi xin thú tội hết, không giấu một chữ, không bỏ một chi tiết.
Năm 1962, khi tôi đang mang bầu thằng Phúc, chồng tôi là Nguyễn Văn Lộc đã thuê lão thợ Sắt, với giá 5 đồng, lén cắm Đinh Lỗ Ban vào quan tài cụ Phạm Văn Kính đang quàn. Để cướp 3 mẫu đất ven sông màu mỡ của gia đình họ Phạm.. Đêm hôm ấy, tôi đã lén đi theo, nấp sau rặng tre, thấy hết mọi chuyện từ đầu đến cuối. Về nhà, tôi hỏi, chồng tôi thú nhận hết. Nhưng tôi đã giấu, giấu suốt ba mươi năm vì sợ hãi, vì muốn bảo vệ gia đình, vì lúc ấy tôi còn trẻ, không có chỗ dựa.
Tôi đã sống trong dằn vặt, trong sợ hãi suốt ba mươi năm. Đêm nào tôi cũng mơ thấy cụ Kính về, mặt đầy máu, đòi mạng. Tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi đã lén lên chùa Hàm Long xin sư cụ giúp, nhưng vì không dám nói thật, sư cụ đã từ chối. Tôi có tội, tôi xin nhận hết tội về mình.
Chồng tôi đã chết ngã giếng, con cả tôi đã chết đột quỵ, cháu đích tôn của tôi đã chết đuối. Ba mạng người đã trả giá cho tội ác. Tôi van xin Quỷ thần, van xin vong linh cụ Kính, van xin tất cả, đừng bắt thêm ai nữa. Tội là ở vợ chồng tôi, đừng hại con trai tôi, đừng hại con dâu tôi, đừng hại đứa cháu chưa chào đời của tôi. Tôi nguyện chịu mọi hình phạt thay cho chúng nó.
Bà khóc nức nở, dập đầu xuống nền đất lạnh ba cái thật mạnh, trán chảy máu đỏ thẫm, nhưng bà không cảm thấy đau, chỉ cảm thấy nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ba mươi năm.
Trong nhà, Lành và Hảo nghe mẹ chồng thú tội, khóc nức nở. Ngoài sân, các sư thầy chắp tay niệm Phật. Thầy Ba Đồ cũng rơm rớm nước mắt.
Khi bà Nhàn vừa dứt lời, một làn khói mờ ảo bốc lên từ bàn thờ giữa sân, dần hiện thành bóng người. Đó là vong ông Lộc, mặt đầy ăn năn, xích sắt trên người đã lỏng ra một chút. Ông bước tới bên cạnh vợ, cũng quỳ sụp xuống nền đất, khóc nức nở:
- Tôi là Nguyễn Văn Lộc, kẻ chủ mưu gây tội ác. Tôi xin nhận hết tội về mình. Vợ tôi chỉ vì sợ hãi mà giấu giếm, bà ấy vô tội. Con tôi vô tội. Xin Quỷ thần, xin vong linh cụ Kính, đừng hại vợ con tôi. Tôi nguyện chịu mọi hình phạt, dù phải tan vong, tôi cũng chịu.
Hai vợ chồng, một người sống một người đã chết, quỳ giữa sân đêm 30 Tết, khóc lóc thảm thiết, dập đầu xin tội. Cảnh tượng khiến ai chứng kiến cũng rơi nước mắt, lòng đau như cắt.
Quỷ Trùng trên không im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối. Đôi mắt xanh lè của nó không còn hung dữ, man rợ như trước, mà có chút dao động, chút hoang mang. Có lẽ, ngay cả quỷ dữ cũng không ngờ con người lại dám thú tội một cách trần trụi, dũng cảm đến thế.
Bỗng nhiên, từ bóng tối ngoài cổng nhà, một bóng người loạng choạng bước ra. Đó là Phạm Văn Hậu, đầu còn chảy máu đầm đìa vì bị gió hất ngã lúc nãy, tay nắm chặt nửa chiếc đinh gãy mà ông giữ 30 năm nay.
Hậu bước từng bước nặng nề tới giữa sân, đứng trước mặt bà Nhàn đang quỳ, nhìn bà bằng ánh mắt phức tạp. Im lặng một lúc lâu, rồi ông cất giọng trầm buồn, khản đặc:
- Bà Nhàn, bà đã dám nói ra hết, không giấu một chữ. Tôi đã nghe hết từ ngoài cổng. Ba mươi năm, tôi sống trong hận thù, trong đau đớn mất cha. Tôi đã thề sẽ không bao giờ tha thứ. Nhưng đêm nay, thấy bà quỳ giữa sân xin tội, thấy vong ông Lộc cũng quỳ nhận tội, thấy cả nhà bà dám đối mặt... tôi... tôi tha thứ.
Bà Nhàn ngẩng lên, không tin vào tai mình, nước mắt chảy dài:
- Bác... bác nói gì? Bác tha thứ cho nhà tôi?
- Tôi tha thứ. - Hậu gật đầu, mắt đỏ hoe. - Không phải vì bà đáng được tha, mà vì sự thành tâm của cả nhà bà đêm nay đã cảm động đến tôi. Và vì... cha tôi ở dưới suối vàng cũng muốn được siêu thoát, không muốn hận thù kéo dài thêm nữa, không muốn thêm người phải chết.
Hậu cúi xuống, đặt nửa chiếc đinh gãy rỉ sét xuống trước mặt bà Nhàn:
- Nửa chiếc đinh này, tôi giữ 30 năm làm bằng chứng hận thù, làm vật nhắc mình không quên. Giờ tôi trao lại cho bà, để đêm nay nó được đặt lên đàn, làm chứng cho sự tha thứ, cho sự hóa giải. Từ nay, hận thù giữa hai nhà chấm dứt.
Bà Nhàn run rẩy nhận lấy nửa chiếc đinh bằng hai tay, khóc nức nở, dập đầu ba cái cảm ơn:
- Cảm ơn bác! Cảm ơn bác đã tha thứ! Nhà tôi mang ơn bác suốt đời!
Thành cũng bò tới, dập đầu trước Hậu:
- Cháu cảm ơn bác! Bác đã cứu cả nhà cháu!
Quỷ Trùng trên không chứng kiến cảnh tha thứ, bỗng gào lên một tiếng đầy đau đớn, như bị ai đó đâm một nhát dao vào tim. Thân hình chim cú khổng lồ của nó co rút lại một chút, đôi cánh run lên, tà khí quanh người mỏng đi trông thấy.
Sư cụ Thích Tâm An nằm ở hiên, hơi thở yếu ớt, nhưng vẫn thều thào với sư thầy bên cạnh, giọng đầy hy vọng:
- Tốt... tốt lắm... lòng tha thứ... sự thành tâm... đang làm nó yếu đi... Quỷ dữ sợ nhất là lòng thành... Cứ tiếp tục...
Thành bò tới bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, nước mắt chảy dài:
- Mẹ ơi, mẹ dũng cảm lắm. Con tự hào về mẹ. Mẹ đã cứu cả nhà.
Bà Nhàn ôm con trai, khóc nức nở nhưng lòng nhẹ nhõm. Ba mươi năm giấu giếm, đêm nay bà đã nói ra hết, đã được tha thứ.
Đêm nay, sự tha thứ chân thành đã bắt đầu hóa giải hận thù ba mươi năm. Và Quỷ Trùng đang yếu đi từng chút một, tà khí mỏng dần.
Nhưng cuộc chiến chưa kết thúc. Nó vẫn còn đó trên bầu trời, vẫn nguy hiểm, vẫn có thể phản công.
Mọi người phải tiếp tục, phải làm nốt những việc còn lại: rút đinh khỏi quan tài, cải táng cho cụ Kính, rồi giam Quỷ Trùng vào vại.
Đêm 30 Tết còn dài, và những việc quan trọng nhất vẫn còn ở phía trước.
Sư cụ Thích Tâm An, dù bị thương nặng, vẫn cố gượng dậy, được hai sư thầy đỡ lấy. Ngài nhìn mọi người với ánh mắt sáng lên hy vọng, thều thào nhưng rõ ràng:
- Nghe đây... Quỷ Trùng đã yếu đi... nhưng chưa chết... Phải tranh thủ... làm nốt việc rút đinh... cải táng cho cụ Kính... ngay trong đêm nay... Đó là việc quan trọng nhất... để cắt đứt nguồn oán khí của nó...
Thành gật đầu mạnh mẽ, lau nước mắt:
- Bạch sư cụ, con hiểu. Chúng con sẽ ra mộ cụ Kính ngay bây giờ, rước quan tài lên, rút đinh, khâm liệm lại.
Hậu cũng gật đầu, dù đầu còn chảy máu:
- Tôi sẽ đi cùng. Đây là mộ cha tôi, tôi phải có mặt. Tôi sẽ chỉ chỗ, sẽ giúp.
Rìu đã tỉnh lại, cũng gượng đứng dậy:
- Tôi cũng đi. Bố tôi gây nghiệp, tôi phải có mặt để chứng kiến ngày trả nghiệp.
Thầy Ba Đồ, dù què chân, cũng nói:
- Tôi biết cách mở quan tài an toàn, biết giờ tốt. Để tôi đi cùng, tôi sẽ hướng dẫn.
Bà Nhàn lau nước mắt, đứng dậy với sự dũng cảm chưa từng có:
- Tôi cũng đi. Tôi phải quỳ trước mộ cụ Kính, phải tận mắt thấy đinh được rút ra, mới yên lòng.
Thành nhìn mọi người, lòng đầy xúc động. Dù ai cũng bị thương, dù đêm đã khuya, nhưng không ai chịu ở lại, ai cũng muốn đi, muốn chứng kiến giờ phút trả nghiệp.
Sư cụ gật đầu hài lòng:
- Tốt... tất cả cùng đi... Đoàn kết là sức mạnh... Ta sẽ ở nhà... tiếp tục tụng kinh... giữ cho Quỷ Trùng không dám quay lại phá...
Bốn sư thầy chia làm hai: hai người ở lại chăm sóc sư cụ và giữ nhà, hai người cùng đoàn ra nghĩa địa.
Thành chuẩn bị đuốc, xẻng, đồ khâm liệm mới. Lành từ trong nhà chạy ra, dúi vào tay chồng một chiếc khăn:
- Anh đi cẩn thận. Em ở nhà chờ anh về.
- Ừ. Em vào nhà đi, đóng kín cửa. Anh sẽ về sớm.
Đoàn người lặng lẽ lên đường ra nghĩa địa trong đêm 30 Tết, mang theo đuốc sáng rực. Đi đầu là Hậu, tiếp theo là Thành, bà Nhàn, Rìu, thầy Ba Đồ, hai sư thầy.
Quỷ Trùng trên không nhìn theo đoàn người, gào lên một tiếng đầy căm hận nhưng yếu ớt, không dám sà xuống ngăn cản. Nó đã yếu đi nhiều sau khi chứng kiến sự tha thứ.
Đêm 30 Tết còn dài, và những việc quan trọng nhất vẫn còn ở phía trước: mở quan tài, rút đinh, cải táng.