Trùng Tang Bên Sông Đuống - Chương 47
Mọi người ngồi quây quần quanh quan tài mở nắp của cụ Kính, bên ánh đuốc bập bùng trong nghĩa địa tĩnh lặng của đêm 30 Tết. Hậu nhìn Rìu, gật đầu ra…
Nội dung chương
Mọi người ngồi quây quần quanh quan tài mở nắp của cụ Kính, bên ánh đuốc bập bùng trong nghĩa địa tĩnh lặng của đêm 30 Tết. Hậu nhìn Rìu, gật đầu ra hiệu. Rìu thở ra một hơi dài. Ông bắt đầu kể câu chuyện mà mình đã giữ kín trong lòng bao nhiêu năm, với giọng nghẹn ngào:
- Bố tôi, lão thợ Sắt, trước khi mất năm 1985, đã gọi tôi đến bên giường bệnh, trăn trối trong nước mắt, tay nắm chặt tay tôi không buông. Ông nói từng chữ một, rất khó nhọc: "Rìu ơi, bố có tội lớn với trời đất, với vong linh. Năm 1962, bố đã nhận 5 đồng của Nguyễn Văn Lộc để lén cắm Đinh Lỗ Ban vào quan tài cụ Phạm Văn Kính đang quàn. Bố biết đó là tội ác tày trời, nhưng vì 5 đồng tiền, vì lòng tham, bố đã nhắm mắt làm liều. Khi cắm, đinh gãy đôi vì bố đã dùng máu gà thay máu người yểm, nhưng nghiệp ác vẫn thành, vẫn cướp được đất. Từ đó, đêm nào bố cũng mơ thấy cụ Kính về đòi mạng, bố sống không yên."
Rìu ngừng lại, lau nước mắt, kể tiếp:
- Bố tôi dặn: "Rìu ơi, bố sắp chết, không còn cơ hội chuộc tội. Con giữ nửa chiếc đinh gãy này, nửa còn lại rơi ở đám ma. Đợi đến khi nhà họ Nguyễn có người dám đối mặt với sự thật, dám trả nghiệp, thì con trao lại nửa chiếc đinh, giúp họ gom đủ, giúp họ hóa giải. Đó là cách duy nhất để bố được siêu thoát, để vong linh bố không phải vất vưởng." Nói xong, bố tôi trút hơi thở cuối cùng, mắt vẫn mở, như chưa yên lòng.
Rìu khóc nức nở:
- Tôi đã giữ lời bố dặn suốt bao nhiêu năm. Tôi đã trao nửa chiếc đinh cho cậu Thành khi thấy cậu ấy dám đối mặt. Giờ đinh đã được gom đủ ba mảnh, nghiệp đã được trả, oán đã được hóa giải. Bố tôi ở dưới suối vàng chắc cũng được nhẹ nhõm, được siêu thoát.
Hậu tiếp lời với giọng trầm buồn:
- Lão Sắt cũng đã từng đến quỳ trước mộ cha tôi khóc lóc xin lỗi trước khi chết. Tôi đã thấy ông ấy quỳ đó một buổi chiều. Sau đó, cha tôi đã về báo mộng cho tôi, nói đã tha thứ cho lão Sắt vì ông ấy đã ăn năn. Giờ thì mọi oán hận giữa người sống và người chết đều được hóa giải hết.
Nghe xong câu chuyện, mọi người đều xúc động sâu sắc. Hóa ra, lão thợ Sắt, kẻ trực tiếp gây tội, cũng đã ăn năn, cũng đã tìm cách chuộc tội trước khi chết. Không ai là hoàn toàn xấu xa, ai cũng có cơ hội chuộc lỗi nếu dám đối mặt.
Tiếp theo là nghi lễ thề nguyện trang trọng. Cả nhà họ Nguyễn quỳ thành hàng trước quan tài của cụ Kính, hướng mặt về phía quan tài, chắp tay thành kính. Thầy Ba Đồ thắp ba nén hương lớn. Ông xướng lễ theo cách dân gian.
Bà Nhàn thề trước. Giọng bà run run nhưng rõ ràng, vang vọng trong đêm khuya.
- Trước vong linh cụ Phạm Văn Kính, trước trời đất, tôi là Trần Thị Nhàn, vợ của kẻ gây tội Nguyễn Văn Lộc, xin thề: gia đình tôi sẽ trả lại toàn bộ 3 mẫu đất ven sông cho họ Phạm (giấy tờ đã ký xong). Sẽ cúng tạ vong linh cụ 49 ngày liên tục không gián đoạn, sẽ hương khói cho cụ đầy đủ mỗi rằm mùng một suốt đời.. Nếu sai lời thề, tôi nguyện chịu mọi trừng phạt của trời đất.
Thành thề tiếp, giọng đầy quyết tâm:
- Con là Nguyễn Văn Thành, con trai kẻ gây tội, xin thề trước vong linh cụ: con sẽ gánh vác hương khói tổ tiên, sẽ dạy con cháu đời sau không bao giờ làm điều ác. Không bao giờ dùng tà thuật hại người, sẽ sống lương thiện để chuộc tội cho cha con..
Rìu cũng quỳ xuống thề thay cha:
- Con là Trần Văn Rìu, con trai lão thợ Sắt, xin thề sẽ tiếp tục việc thiện của cha con, sẽ giúp đỡ gia đình họ Phạm, để chuộc tội cho cha.
Lời thề vang vọng trong đêm khuya tĩnh lặng, ai nghe cũng xúc động, rơm rớm nước mắt.
Bỗng nhiên, một làn khói trắng mờ ảo bốc lên từ quan tài mở nắp, dần hiện thành bóng ông lão mặt hiền từ, râu tóc bạc phơ. Đó là vong cụ Kính hiện ra. Ông nhìn từng người đang quỳ, mỉm cười bao dung, hiền hậu, rồi gật đầu ba cái thật chậm như chấp nhận lời thề, như tha thứ hoàn toàn.
- Cụ đã chấp nhận! - Thầy Ba Đồ mừng rỡ hét lên. - Lời thề đã được vong linh chứng giám!
Cùng lúc đó, trên bầu trời đêm, Quỷ Trùng bỗng gào lên một tiếng đau đớn thảm thiết, vang vọng khắp làng, như bị hàng nghìn mũi dao vô hình đâm vào người. Thân hình chim cú khổng lồ của nó co rút lại nhanh chóng, chỉ còn bằng một nửa trước. Tà khí đen quanh người mỏng đi trông thấy như sương khói, đôi mắt xanh lè mờ dần như đèn sắp tắt.
- Oán khí tan rồi! - Hai sư thầy mừng rỡ reo lên. - Nguồn oán khí nuôi nó đã bị cắt đứt hoàn toàn! Nó đang yếu đi nhanh chóng!
Mọi người vui mừng khôn xiết, ôm nhau khóc. Ba mươi năm oán hận chất chồng, đêm nay, trong đêm 30 Tết, đã tan biến hoàn toàn như sương khói buổi sớm.
Hậu ngẩng mặt lên trời, nói với vong cha với giọng nghẹn ngào:
- Cha ơi, cha thấy không? Oán hận đã tan, đinh đã được rút, đất đã được trả. Cha yên nghỉ nhé, đừng lo lắng gì nữa. Con sẽ hương khói cho cha đầy đủ.
Sau lễ thề nguyện, mọi người tiến hành khâm liệm lại hài cốt cụ Kính đàng hoàng. Quan tài mới bằng gỗ tốt đã được Thành đặt mua từ chiều, chở ra nghĩa địa bằng xe bò. Mọi người cẩn thận chuyển hài cốt sang quan tài mới, thay áo liệm mới sạch sẽ, đặt vào các vật tùy táng đơn sơ nhưng chu đáo.
Hậu quỳ trước quan tài mới của cha, khóc nức nở:
- Cha ơi, con bất hiếu, để cha phải chịu khổ, chịu oán hận ba mươi năm. Giờ con đã rút đinh, đã đưa cha về nơi an nghỉ đàng hoàng, khang trang. Cha yên nghỉ nhé, đừng lo lắng gì nữa. Con sẽ hương khói cho cha đầy đủ mỗi rằm mùng một.
Cả nhà họ Nguyễn, từ bà Nhàn đến Thành, đều quỳ trước quan tài mới, dập đầu ba cái xin lỗi vong linh cụ Kính lần cuối.
Mọi người hạ quan tài xuống huyệt mới đã đào sẵn bên cạnh, lấp đất lại cẩn thận, đắp mộ mới khang trang cao ráo, trồng cỏ mới, dựng bia đá khắc tên "Phạm Văn Kính". Thắp hương, cúng tạ với lễ vật chay đơn sơ nhưng thành tâm.
Khi nắm đất cuối cùng được đắp lên mộ mới, vong cụ Kính hiện ra lần cuối bên cạnh mộ, mặt hiền từ, mỉm cười, gật đầu, rồi từ từ tan biến vào ánh trăng mờ ảo, nhẹ nhàng, thanh thản, hoàn toàn siêu thoát.
- Cụ siêu thoát hoàn toàn rồi! - Thầy Ba Đồ mừng rỡ. - Không còn vất vưởng nữa!
Mọi người thắp thêm một tuần hương mới trên mộ mới, vái lạy ba vái, rồi lặng lẽ thu dọn về nhà để làm việc cuối cùng, quyết định nhất: giam Quỷ Trùng vào vại sành.
Trên đường về dưới ánh trăng mờ, Thành nghĩ về những gì đã xảy ra trong đêm nay: thú tội công khai, tha thứ, rút đinh, cải táng, thề nguyện. Mọi việc đều đã hoàn thành một cách kỳ diệu.
Giờ chỉ còn một việc cuối cùng: giam Quỷ Trùng vào vại sành, niêm phong vĩnh viễn dưới tháp cổ.
Trời đã gần 4 giờ sáng. Gà sắp gáy sáng mùng 1. Phải làm nhanh, trước khi đêm 30 Tết kết thúc, trước khi thời khắc linh thiêng qua đi.
Cuộc chiến kéo dài ba mươi năm sắp đến hồi kết.
Về đến nhà khi trời đã gần 4 giờ sáng, mọi người thấy sư cụ Thích Tâm An đã tỉnh lại, đang ngồi ở hiên được các sư thầy chăm sóc. Nghe kể chuyện rút đinh, cải táng, thề nguyện thành công, ngài mừng rỡ, mắt sáng lên hy vọng:
- Tốt lắm! Tốt lắm! Nguồn oán khí đã bị cắt đứt hoàn toàn! Vong cụ Kính đã siêu thoát! Giờ Quỷ Trùng đã mất nguồn sức mạnh, đang yếu đi nhanh chóng! Chúng ta phải giam nó ngay bây giờ, trước khi trời sáng!
Sư cụ cố gượng dậy, dù còn rất yếu, được hai sư thầy đỡ lấy. Ngài chỉ huy mọi người chuẩn bị cho nghi lễ giam Quỷ Trùng:
- Mau dựng lại chày Kim Cang! Thắp nến lại! Mang vại sành đã yểm bùa ra đây!
Mọi người vội vã làm theo dù ai cũng mệt rã rời, bị thương. Hai chiếc chày bị gãy được thay bằng hai chiếc dự phòng mà Thành đã đẽo dư từ trước. Bốn chiếc chày được dựng lại ở 4 góc sân, nến sáp ong được thắp sáng trở lại, tro trấu được rải vá những chỗ bị gió cuốn.
Chú tiểu Tâm Minh mang ra một chiếc vại sành lớn, trên nắp và thân đã dán đầy bùa chú màu vàng do sư cụ yểm suốt 7 ngày qua.
- Vại này ta đã yểm bùa cẩn thận. - Sư cụ giải thích, giọng yếu ớt nhưng rõ ràng. - Đủ sức giam Quỷ Trùng khi nó đã yếu đi như hiện tại.
Mọi người vào vị trí quanh vại, dù ai cũng bị thương, mệt mỏi, nhưng ánh mắt ai cũng sáng lên hy vọng và quyết tâm.
Quỷ Trùng trên trời thấy mọi người chuẩn bị vại sành, gào lên một tiếng đầy sợ hãi và căm hận. Nó biết điều gì sắp xảy ra với mình, nhưng đã quá yếu để chống cự, để bỏ chạy. Thân hình nó co rút, tà khí mỏng dần.
Số phận của Quỷ Trùng đã được định đoạt. Chỉ còn nghi lễ cuối cùng.
Và trời sắp sáng. Phải làm nhanh, trước khi đêm 30 Tết qua đi, trước khi thời khắc linh thiêng nghìn năm có một biến mất vĩnh viễn.